Tên
tự gọi: Mạ.
Tên
gọi khác:Châu Mạ, Chô Mạ, Chê Mạ.
Nhóm
địa phương: Mạ Ngăn, Mạ Xốp, Mạ Tô, Mạ Krung.
Dân
số: 41.405 người (theo kết quả điều tra dân số năm 2009 của Tổng cục thống kê)
Lịch
sử: Người Mạ là cư dân sinh tụ lâu đời
ở Tây Nguyên.
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ
Môn - Khơ Me (ngữ hệ Nam Á).
Hoạt động sản xuất: Nương rẫy đóng vai trò
chủ yếu trong đời sống của người Mạ. Ðây là loại rẫy đa canh, ngoài trồng lúa
còn trồng các loại cây khác như bắp, bầu, bí, thuốc lá, bông vải, ở vùng sông Ðồng
Nai, người Mạ làm ruộng bằng kỹ thuật lùa cả đàn trâu xuống ruộng quần đất đến
khi nhão bùn thì gieo lúa giống. Họ tính năng suất của rẫy theo số gùi lúa thu
được khi trỉa một gùi lúa giống. Công cụ làm rẫy chủ yếu là rìu, xà gạc, dao,
liềm, gậy chọc lỗ, gùi. Nghề đánh cá khá phổ biến. Trước đây, họ biết chế thuốc
độc từ loại lá rừng bỏ xuống suối để bắt cá. Người Mạ nổi tiếng về nghề trồng
bông dệt vải.
Ăn: Cơm gạo tẻ với muối trộn ớt, sả, măng
tươi và một số loại rau rừng. Cách chế biến thức ăn chủ yếu là nướng, luộc, nấu
canh. Họ thích uống rượu cần và hút thuốc lá bằng điếu khan.
Mặc: Phụ nữ mặc váy quấn dài quá bắp chân,
áo chui đầu vừa sát thân dài tới thắt lưng, kín tà. Nam đóng khố, áo hở tà, vạt
sau dài hơn vạt trước. Mùa lạnh, người già thường khoác thêm tấm mền. Người Mạ
có tập quán cà răng, căng tai, phụ nữ thích đeo chuỗi hạt cườm nhiều màu sắc.
Thanh niên mang nhiều vòng đồng ở cổ tay có ngấn khắc chìm như là ký hiệu của
các lễ hiến sinh tế thần linh, cầu mát cho chính mình.
Ở: Người Mạ thường sống thành từng làng
(bon) với một khu vực đất đai riêng biệt trên các cao nguyên Bảo Lộc, Di Linh,
Ðạ Tẻ, lưu vực sông Ðồng Nai (Lâm Ðồng). Mỗi "bon" có từ 5 đến 10 nhà
sàn dài. Nhà được làm bằng nứa, bương mai, hai mái lợp bằng lá mây. Mái cửa ra
vào (cửa mẹ) uốn khum thành vòm bằng cành trúc đội trên mái cỏ. Xung quanh nhà ở,
Họ còn dựng nhiều kho lúa trên sàn cao. Các cột nhà kho đều trang trí theo mô
típ chày cối.
Phương tiện vận chuyển: Chủ yếu là chiếc
gùi nan mang sau lưng với nhiều loại to nhỏ khác nhau. Chiếc gùi dùng đi xa được
trang trí hoa văn qua các đường đan. ở vùng ven sông Ðồng Nai, người Mạ làm
thuyền độc mộc để đi lại, vận chuyển và đánh cá trên sông.
photo
Khố (Ntrônh) sản phẩm dệt từ đôi bàn tay
tài hoa của người phụ nữ Mạ, có cái dài 4m, hai đầu khố dệt hoa văn khá tinh xảo
và có tua rua gắn hạt cườm. Khi đi từng hay làm rẫy hai vật dụng thân thiết nhất
của người đàn ông Mạ là chiếc gùi đeo sau lưng và chiếc xà gạc cầm tay.
Quan hệ xã hội: Làng là đơn vị tổ chức xã
hội cao nhất của người Mạ do chủ làng đứng đầu (quăng bon). Chủ làng có nhiệm vụ
cùng tế trong các nghi lễ mang tính chất cộng đồng. Người Mạ tồn tại hai hình
thức gia đình: gia đình lớn phụ quyền và gia đình nhỏ phụ quyền. Người chủ gia
đình lớn là người cao tuổi nhất của thế hệ cao nhất trong gia tộc, có nhiệm vụ
điều hành mọi công việc trong gia đình và trông coi các đồ dùng quý hiếm như
chiêng, ché.
Trong loại gia đình lớn phụ quyền, từng cặp
vợ chồng với con cái ở chung nhưng làm ăn riêng, còn gia đình nhỏ phụ quyền thì
như một đơn vị kinh tế cá thể nhưng vẫn lưu giữ dấu vết của gia đình lớn phụ hệ.
Ngôi nhà dài truyền thống của người Mạ còn
lại rất ít trong các buôn làng.
Cưới xin: Quyền chủ động hôn nhân do bên
nhà trai, nhưng sau lễ cưới nếu nhà trai nộp đủ sính lễ thì đôi vợ chồng chỉ ở
lại nhà gái 8 ngày, còn không, chàng trai phải ở rể đến khi nộp đủ mới được đưa
vợ về nhà mình.
Sinh đẻ: Khi sinh con trai, nhau của đứa
trẻ đựng trong vỏ trái bầu khô chôn trước nhà, nếu sinh con gái nhau chôn sau
nhà. Sang ngày thứ 8, người mẹ bồng con ra sân tắm nắng, nếu con trai phải mang
theo xà gạt, nỏ, dao vót nan, con gái mang theo gùi, rìu chẻ củi, túi đựng cơm
và giới bên kia như xà gạt, rìu, ché, váy áo chôn cùng huyệt hoặc bỏ rải rác
xung quanh mộ. Sau lễ mai táng thì bỏ mả và tang chủ phải kiêng 7 ngày không được
vào rừng hoặc lên rẫy.
Ngôi nhà dài truyền thống của người Mạ còn lại rất
ít trong các buôn làng.
Thờ cúng: Người Mạ tin có thần (Yang). Họ
thờ cúng nhiều Yang như Yang Hiu (thần nhà), Yang Koi (thần lúa), Yang Bơnơm
(thần núi). Họ thường giết súc vật tế thần vào những dịp được mùa, sinh đẻ, bệnh
tật, chết chóc. Lễ hiến sinh lớn nhất là lễ đâm trâu, thường được thực hiện lúc
kết thúc mùa rẫy.
Lịch: Người Mạ theo âm lịch.
Học: Người Mạ không có chữ viết, nền văn
hoá dân gian Mạ vẫn sống bằng lối sống nghìn xưa - thuộc lòng và truyền miệng.
Văn nghệ: Vốn văn học nghệ thuật dân gian
khá phong phú gồm nhiều truyền thuyết, truyện cổ và những bài dân ca trữ tình gọi
là "tam bớt".
Nhạc cụ truyền thống là bộ chiêng đồng 6
chiếc không núm. Khi hoà tấu có trống bịt da trâu đánh giáo đầu, giữ nhịp và đổ
hồi trước khi kết thúc. Con trai Mạ thường thổi khèn bầu, sáo trúc, tù và bằng
sừng trâu.
Lý Thị Ninh (sưu
tầm)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét