Hiển thị các bài đăng có nhãn ₪ Dân tộc X’Tiêng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn ₪ Dân tộc X’Tiêng. Hiển thị tất cả bài đăng

Gìn giữ kỹ thuật chế biến rượu cần độc đáo của dân tộc S'Tiêng. * Huỳnh Tâm.

Cách phối trộn độc đáo giữa các men lá với nguyên liệu như lúa, gạo của dân tộc S'Tiêng tạo ra sản phẩm rượu cần mang sự khác biệt về hương vị, độ đậm đà, chất lượng.
Sản phẩm rượu cần của dân tộc S’Tiêng tại sóc Bom Bo, xã Bình Minh, huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước:

Dân tộc X’tiêng (Mạc Quang Khải)

Cũng như các dân tộc khác trong cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam, dân tộc S’tiêng có rất nhiều phong tục và những giá trị văn hóa truyền thống cần được bảo tồn, gìn giữ và phát huy.
Phần lớn người S’tiêng ở vùng cao vẫn giữ tập quán canh tác nương rẫy. Họ chặt cây đốt rẫy chọc lỗ trỉa hạt, làm cỏ bằng cuốc, thu hoạch lúa bằng tay hoặc bằng liềm cắt từng giẻ lúa và có tập quán làm vườn quanh nhà, trồng cây củ quả, chăn nuôi gia súc, gia cầm. Xa xưa, người S’tiêng còn có nghề săn bắt và thuần dưỡng voi rừng nhưng nay voi rừng không còn nữa, nghề này cũng bị quên lãng.

Dân tộc X'tiêng (Nông Quang Lập)


Người dân tộc thiểu số Xtiêng còn gọi là người S'tiêng hoăc Giẻ Xtiêng. Dân tộc này không nên nhầm lẫn với người dân tộc Giẻ Triêng. Đây là một dân tộc trong số 54 dân tộc được Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam công nhận chính thức. Người dân tộc Xtiêng sử dụng ngôn ngữ tiếng Xtiêng thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khmer.

Dân Ca X'tiêng (Hoàng Thị Thắng)

Người Xtiêng hay còn gọi là người S’tiêng hay Giẻ Xtiêng(không lầm với tộc Giẻ Triêng) là một dân tộc thiểu số sinh sống tại Việt Nam.
Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Xtiêng ở Việt Nam có dân số 85.436 người, có mặt tại 34 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Người Xtiêng cư trú tập trung tại các tỉnh

Dân Tộc X'tiêng (Đinh Gia Sánh)

Tên gọi khác: Xa Ðiêng
Nhóm ngôn ngữ:  Môn - Khmer
Cư trú: Cư trú tập trung tại 4 huyện phía Bắc tỉnh Sông Bé và một phần sinh sống ở Ðồng Nai và Tây Ninh.
Ðặc điểm kinh tế
Nhóm Bù Ðéc ở vùng thấp, biết làm ruộng nước và dùng trâu, bò kéo cày từ khá lâu. Nhóm Bù Lơ ở vùng cao, làm rẫy là chủ yếu, sống gần gũi với người M'Nông và người Mạ.

Dân tộc X'Tiêng (Hoàng Thị Vinh)

Theo tài liệu khảo cổ học, từ những di tích, chỉ tìm được ở Đốc Chùa (Tân Uyên), thành Cổ Tròn (Bình Long) thì khả năng xuất hiện của người S'tiêng ước lượng từ 2.000 đến 5.500 năm. Vào những thập niên đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp chiếm đất của người S'tiêng để lập đồn điền cao su, đẩy người S'tiêng ngày càng lùi sâu vào vùng rừng núi phía Bắc.

Dân tộc bản địa: X'tiêng (Lý Hải Ninh)

Dân tộc Xtiêng có hơn 67.000 người. Đồng bào cư trú tập trung tại tỉnh Bình Phước và một phần sinh sống ở Đồng Nai và Tây Ninh. Có thể phân biệt hai nhóm Xtiêng là Bù Đéc và Bù Lơ. Nhóm Bù Đéc ở vùng thấp,biết làm ruộng nước và dùng trâu, bò kéo cày từ khá lâu. Nhóm Bù Lơ ở vùng cao, làm rẫy là chủ yếu, sống gần gũi với người Mnông và người Mạ. Dân tộc Xtiêng còn có tên gọi là Xađiêng. Tiếng Xtiêng thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khơmer.

Dân tộc X'tiêng (Hoàng Thao)

Tên dân tộc: Xtiêng (Xa Ðiêng). Dân số: 66.788 người (năm 1999). Ðịa bàn cư trú: Bốn huyện phía bắc tỉnh Bình Dương, một phần ở Ðồng Nai, Tây Ninh.
Phong tục tập quán:
Ðứng đầu là già làng am hiểu tập tục, có uy tín, tháo vát. Họ sống định canh định cư theo từng gia đình. Tin vào sức mạnh huyền bí của sấm sét, trời đất, trăng, mặt trời. Tính tuổi theo mùa rẫy. Trong hôn nhân, họ lấy vợ lấy chồng khác dòng họ. Cô dâu về ở nhà chồng ở sau ngày cưới.

Dân tộc X'Tiêng (Sầm Thị Phong)

Phụ nữ Xtiêng biết dệt vải, nhưng họ hay dùng các vật dụng khác đổi lấy y phục may sẵn. Ngày nay, nam nữ Xtiêng thường mặc quần áo là sản phẩm của nền công nghiệp dệt. Dù vậy, vào mùa nóng, lớp phụ nữ cao tuổi vẫn ở trần, cổ đeo vòng hạt nhiều màu, tai căng rộng bởi đôi hoa ngà voi... Họ cũng là lớp người cuối cùng có những chiếc răng cửa hàm trên bị cắt cụt do tục cà răng.
Tên gọi khác: Xa Ðiêng hay Xa Chiêng.

Dân tộc X'tiêng (Minh Hằng)

Tên tự gọi: Xtiêng
Tên gọi khác: Xa Điêng hay Xa Chiêng
Nhóm địa phương: Bù Lơ, Bù Đêk, Bù Biêk
Dân số: 66.788 người (Tổng cục Thống kê năm 1999).
Ngôn ngữ và chữ viết: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ me, ngữ hệ Nam Á. Gần đây, người Xtiêng mới có chữ viết dựa trên mẫu chữ Latinh

Dân tộc X'tiêng (Nông Minh Hằng)

Tổng số dân: 92.000
Khu vực có số dân đáng kể: Việt Nam 85.436 (2009),
Campuchia 6.500 (2008)
Ngôn ngữ: Tiếng Xtiêng, tiếng Việt
Tín ngưỡng dân gian: Kitô giáo
Người Xtiêng hay còn gọi là người S'tiêng hay Giẻ Xtiêng (không nhầm với người Giẻ Triêng) là một dân tộc trong số 54 dân tộc tại Việt Nam.
Ngôn ngữ: Tiếng Xtiêng thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khmer trong ngữ hệ Nam Á.

Lễ cúng cơm mới (paba Khiêu) của người Xtiêng

 Trong các tín ngưỡng nghi lễ của người Xtiêng phải kể đến “lễ cúng cơm mới”.

Người Xtiêng quan niệm rằng “vạn vật hữu linh” tất cả đều linh thiêng đều có thần trú ngụ, như thần mặt trời, thần mặt trăng, thần núi, thần rừng, thần gió, thần mưa… nên đều phải có cúng lễ cầu, mong thần ban phúc. Trong các tín ngưỡng nghi lễ của người Xtiêng phải kể đến “lễ cúng cơm mới” - nghi lễ quan trọng có ảnh hưởng tới tình cảm đời sống văn hóa tâm linh của cộng đồng người Xtiêng.