Hiển thị các bài đăng có nhãn ₪ Dân tộc Hrê. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn ₪ Dân tộc Hrê. Hiển thị tất cả bài đăng

Đôi nét về nghi lễ, lễ hội của dân tộc H'rê (Lăng Văn Định)

Dân tộc Hrê còn có các tên gọi khác Chăm Rê, Chom, Thượng Ba Tơ, Mọi Luỹ,  Chăm Quảng Ngãi, Mọi Chòm, Rê, Màn Thạch Bích. Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khơ Me. Dân tộc Hrê cư trú chủ yếu ở các huyện Sơn Hà, Ba Tơ, Minh Long (Quảng Ngãi) và An Lão (Bình Ðịnh).

Tục mai mối vợ chồng của dân tộc H'rê (Hứa Ban Mai)

Mỗi cộng đồng tộc người đều có phong tục tập quán, nghi thức dựng vợ gả chồng. Dân tộc Hrê ở Quảng Ngãi, chuyện dựng vợ gả chồng trước tiên là do người đi mai mối (đi hỏi) gầy dựng nên, hoặc là do hai bên gia đình kết bạn làm sui gia với nhau, tức cha mẹ sắp đặt con cái lấy vợ lấy chồng theo ý của mình, làm sui với nhau lúc con còn nhỏ chưa tuổi kết hôn (tảo hôn), gọi là “Ta proi enh ‘yoh”, thậm chí còn đang trong bụng mẹ, gọi là “Ta proi enh cleack”.

Dân tộc H'rê (Long Chí Đức)

Nhạc cụ của người Hrê gồm nhiều loại: đàn Brook, Ching Ka-la, sáo ling la, ống tiêu ta-lía, đàn ống bút của nữ giới, khèn ra-vai, ra-ngói

Dân tộc Hrê ở nước ta cư trú chủ yếu ở Quảng Ngãi và Bình Định kinh. Dân tộc Hrê còn có tên gọi khác là Chăm Rê, Chom Krẹ, Lùy. Theo số liệu thống kê năm 2009 ở tỉnh Yên Bái có 02 người dân tộc

Nét đẹp văn hóa trong lễ cưới của người H'rê An Lão (Từ Duy Tốn)

Uống rượu cần là dịp để trai, gái tỏ tình…

Huyện An Lão hiện có hơn 30 ngàn người, với 3 dân tộc cùng sinh sống là Kinh, Hrê và Ba Na, trong đó người Hrê chiếm hơn 1/3 dân số toàn huyện. Trước đây tộc người Hrê có nhiều tên gọi khác nhau như Chăm Rế, Thạch Bích… nhưng sau này chính thức được gọi là Hrê. Dân tộc Hrê thường sinh sống theo các plây (làng). Mỗi plây thường có từ 15 - 25 nóc nhà dựng theo ven các sông, suối hoặc trên khu đất đồi thấp gần nguồn nước. Một nét đẹp trong nếp sống của người Hrê là có sự bình đẳng giữa vợ và chồng. Hầu hết người Hrê sinh ra đều lấy họ Đinh phỏng theo họ người Kinh…

Văn hóa truyền thống của dân tộc H’rê - Quảng Ngãi (Mai Thúy Hằng)

Như nhiều dân tộc khác trong cộng đồng 54 dân tộc anh em, đồng bào dân tộc H’rê có một nền văn hoá khá độc đáo. Văn hóa truyền thống của dân tộc H’rê mang đậm nét bản địa, chứa đựng nhiều giá trị đặc trưng của yếu tố Trường Sơn - Tây Nguyên.

Dân tộc H're (Lý A Sùng)

Người Hrê sống chủ yếu ở tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định
Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Hrê ở Việt Nam có dân số 127.420 người, cư trú tại 51 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Người Hrê cư trú tập trung tại các tỉnh: Quảng Ngãi (115.268 người, chiếm 90,5% tổng số người Hrê tại Việt Nam), Bình Định (9.201 người), Kon Tum (1.547 người), Đắk Lắk (341 người), Gia Lai (128 người)[1].

Đặc sắc văn hóa dân tộc H'rê (Minh Huệ)

Như nhiều dân tộc khác trong cộng đồng 54 dân tộc anh em, đồng bào dân tộc H’rê có một nền văn hoá khá độc đáo. Văn hóa truyền thống của dân tộc H’rê mang đậm nét bản địa, chứa đựng nhiều giá trị đặc trưng của yếu tố Trường Sơn - Tây Nguyên.
 Người H’rê chủ yếu sống bằng nghề làm lúa nước và nương rẫy, săn bắn, hái lượm, đánh cá, dệt, rèn là những nghề phụ, nhưng có ý nghĩa đáng kể. Những con vật nuôi thông thường trong gia đình là trâu, chó, heo, gà, dê…

Buộc mây - nhà sàn độc đáo của dân tộc H’rê (Minh Thoa)

Kiến trúc nhà sàn dân tộc Hrê
Nét độc đáo trong kết cấu kiến trúc nhà sàn của người Hrê là cách thức buộc mây để liên kết các bộ phận kiến trúc của ngôi nhà sàn. Phương pháp liên kết bằng cách thức buộc mây là phương pháp phổ biến, độc đáo và là đặt trưng trong ngôi nhà sàn Hrê.

Đặc điểm sinh sống của người dân tộc thiếu số H'rê (Hoàng Thị Khuyên)

Người dân tộc thiểu số Hrê còn có tên gọi khác là Chăm Rê, Chom Krẹ, Lùy. Sử dụng ngôn ngữ Hrê thuộc nhóm Môn-Khmer. Người Hrê sống chủ yếu ở miền tây tỉnh Quảng Ngãi và tỉnh Bình Định.

Theo tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, dân tộc thiếu số Hrê ở Việt Nam có khoảng 127.420 người, cư trú tại 51 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố trên cả nước. Người Hrê cư trú chủ yếu tập trung tại các tỉnh Quảng Ngãi 115.268 người, chiếm tỷ lệ 90,5 % tổng số người Hrê tại Việt Nam, tỉnh Bình Định có 9.201 người, tỉnh Kon Tum có 1.547 người, Tỉnh Đăk Lăk có 341 người, tỉnh Gia Lai có 128 người.

Độc đáo làn điệu dân ca dân tộc H'rê, Quảng Ngãi (Quảng Ninh)

Độc đáo làn điệu dân ca dân tộc Hrê

Dân tộc Hrê ở Quảng Ngãi có nền âm nhạc dân gian khá đa dạng và phong phú. Trong đó, dân ca là một loại hình nghệ thuật diễn xướng được nhiều người yêu thích.
Trong số các nàn điệu dân ca của người H’rê phải kể đến H'chôi. H’chôi gồm có hai loại: "H'chôi i boi" và "H'chôi tăh têu" (hay còn gọi là "Tăh h'chôi"). H'chôi i boi là một làn điệu dân ca có bài bản, có nhịp điệu như một ca khúc mới, có nhiều bài và phổ biến nhất; còn H'chôi tăh têu nó chỉ có một lối hát, một bài mà thôi, là một làn điệu hát đối đáp, nên gọi là H'chôi tăh têu.

Dân tộc H'rê (Hoàng Minh Thắng)

Dân tộc Hrê ở nước ta có khoảng hơn 113.000 người, cư trú chủ yếu ở 2 tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định và một số ít ở huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum. Dân tộc Hrê còn có tên gọi khác là Chăm rê, Chom, Thượng Ba Tơ...

Đôi nét về nghi lễ, lễ hội của người H'rê (Mai Thanh)

Lễ hội đâm trâu.
 Dân tộc Hrê còn có các tên gọi khác Chăm Rê, Chom, Thượng Ba Tơ, Mọi Luỹ,  Chăm Quảng Ngãi, Mọi Chòm, Rê, Màn Thạch Bích. Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me. Dân tộc Hrê cư trú chủ yếu ở các huyện Sơn Hà, Ba Tơ, Minh Long (Quảng Ngãi) và An Lão (Bình Ðịnh).

Trang phục truyền thống của dân tộc H'rê ở Quảng Ngãi (Minh Trang)

Bộ trang phục truyền thống lễ hội của dân tộc Hrê.

Trang phục truyền thống là văn hoá ăn mặc của mỗi dân tộc, mỗi cộng đồng tộc người đều có lối ăn mặc riêng, qua cách ăn mặc người ta có thể nhận biết dân tộc này hay dân tộc kia.
Trang phục truyền thống của dân tộc Hrê ở Quảng Ngãi gồm có hai loại, đó là bộ thổ cẩm và bộ vải thường (kể cả cho nam và cho nữ). Có tên gọi như sau:

Dân ca H'rê (Văn Chấn)


Dân tộc Hrê còn có tên gọi khác là Chăm Rê, Chom Krẹ, Lùy. Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khơ Me, ngữ hệ Nam Á.
Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Hrê ở Việt Nam có dân số 127.420 người, cư trú tại 51 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Người Hrê cư trú tập trung tại các tỉnh: Quảng Ngãi (115.268 người, chiếm 90,5% tổng số người Hrê tại Việt Nam), Bình Định (9.201 người), Kon Tum (1.547 người), Đắk Lắk (341 người), Gia Lai (128 người),

Dân tộc H'rê (Lý Hải Ninh)

Tên tự gọi:Hrê, trước kia thường gắn với tên sông sở tại như: "người Krê" - sông Krế ở Sơn Hà; "người Hrê" - sông Hrê ở Ba Tơ; "người nước Ðinh" - sông Ðinh ở An Lão)...
Tên gọi khác: Chăm Rê, Chom, Thượng Ba Tơ, Mọi Luỹ, Mọi Sơn Phòng, Mọi Ðá Vách, Chăm Quảng Ngãi, Mọi Chòm, Rê, Màn Thạch Bích.
Dân số: 27.420 người (theo kết quả điều tra dân số năm 2009 của Tổng cục thống kê)

Dân tộc H'rê (Nông Quang Dự)

Tên tự gọi: Hrê
Tên gọi hhác: Chăm Rê, Chom, Thượng Ba Tơ, Mọi Lũy, Mọi Sơn Phỏng, Mọi Đá Vách, Chăm Quảng Ngãi. Mọi Chòm,  Màn Thạch Bích.
Dân số: 127.420 người (Tổng cục Thống kê năm 2009).

Dân tộc H'rê (Hoàng Mai)

Tổng số dân: 127,420 (2009)[1]
Khu vực có số dân đáng kể:
Quảng Ngãi, Bình Định - Việt Nam
Ngôn ngữ: Hrê, Việt, khác
Tôn giáo: Không
Dân tộc H'rê, còn có tên gọi khác là Chăm Rê, Chom Krẹ, Lùy, là một dân tộc trong số 54 dân tộc tại Việt Nam.

Đám cưới của người H’rê, Quảng Ngãi

Theo quan niệm của người H’rê (Quảng Ngãi), việc tổ chức đám cưới hai bên giống nhau để tạo sự công bằng giữa hai gia đình. Với người H’rê, con dâu về nhà chồng ở hay con rể về nhà vợ ở đều được, không có sự phân biệt...Người H’rê có câu: “Em là chim Pơti/ Em là hoa cao nhớ hoa Pơlang, hoa Kẹo khà/ Anh là cái tổ giữa thân cây cho chim Pơti ở/ Sao em không chịu cưới anh về làm chồng?”. Khi chàng trai có cảm tình với cô gái, họ sẽ mời ông mối hoặc bà mối qua nhà gái thưa chuyện.