Nghi lễ đặt tên cho con của người Cơ Ho, Lâm Đồng (Hoàng Thúy Vinh)

Lễ đặt tên cho con là một phong tục truyền thống độc đáo, là một thành tố văn hóa, tôn giáo quan trọng liên quan đến các nghi lễ vòng đời của dân tộc Cơ Ho ở Lâm Đồng.
Theo thống kê hiện nay, người Cơ Ho có khoảng hơn 150.000 người tập trung ở các huyện Lạc Dương, Đức Trọng, Di Linh của Lâm Đồng. Người Cơ Ho hiện nay vẫn còn lưu giữ được nhiều phong tục truyền thống độc đáo trong đó có “Lễ đặt tên cho con”.

Đặc sắc trang phục dân tộc Cơ Ho (Hoàng Minh Thắng)

Trải qua rất nhiều biến thiên của lịch sử, bộ trang phục truyền thống của dân tộc Cơ Ho vẫn còn bảo lưu được nhiều sắc thái văn hóa truyền thống...
Người Cơ Ho ngày xưa ăn mặc rất đơn giản: tất cả đều cởi trần, đàn ông đóng khố, phụ nữ mặc váy ngắn. Khi vải còn khó tìm, họ đã dùng vỏ cây rừng ngâm cho hết nhựa, gấp đôi lại khoét cổ và ống tay khâu lại bằng dây mây để làm áo chống rét.

Lễ hội của dân tộc Cơ Ho (Văn Đài)

Ngưi Cơ Ho là mt trong các cư dân bản địa sinh sống lâu đời ở phía Bắc tỉnh Đồng Nai. Theo số liệu thống kê năm 1999 ngưi Cơ Ho có 720 nhân khẩu, xếp thứ 13 về dân số trong cộng đồng các dân tộc ở Đồng Nai. Bà con sống tập trung ở huyện Tân Phú (đông nhất là xóm Là Ủ, xã Phú Bình) và rải rác ở các huyện Long Khánh, Định Quán…

Dân tộc Cơ Ho (Văn Đài)

Lễ dâng trâu tế thần của tộc người Cơ Ho, Bình Thuận
22 Tháng Giêng 2015
(Cinet – DTV) – Cứ 17 năm, người Cơ Ho, xã Đông Giang huyện Hàm Thuận Bắc (Bình Thuận) lại tổ chức lễ dâng trâu tế thần một lần, để tạ ơn thần mặt trời, thần lúa mẹ, tổ tiên… chi tiết»
Nhà sàn – Kiến trúc độc đáo của người Cơ Ho, Lâm Đồng

Tục "bắt" chồng lúc nửa đêm của người K'Ho (Minh Thái)

Đối với các cô gái người K'Ho ở Lâm Đồng chỉ cần ưng "cái bụng" anh chàng nào là nhờ họ hàng đến nhà trai chạm ngõ. Nếu chàng trai đồng ý, ngay trong đêm đó nhà gái sẽ nhanh chóng "bắt" chàng trai về cho con gái mình làm chồng. Tục "bắt" chồng được cộng đồng người K'Ho tuân thủ một cách vô thức và được lưu truyền từ đời này sang đời khác.

Vài Nét khái quát về dân tộc Cơ Ho (Lâm Thanh Hiền)

Tên tự gọi: Cơ Ho.
Nhóm địa phương: Srê, Nộp ,Cơ Dòn, Chil, Lạt (Lạch) .  ( theo danh mục thành phần của các dân tộc thiểu số việt nam công bố năm 1979).
Dân số: khoảng 128.723 người (tháng 4/1999)
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khơ Me (ngữ hệ Nam Á).
Lịch sử: Dân tộc Cơ Ho có lịch sử cư trú lâu đời ở Tây Nguyên.

Dân tộc Cơ Ho ở Đà Lạt (Nông gia Cát)

Ở Đà Lạt, dân tộc Cơ Ho (còn viết Cơho, Kơho, K’Ho, Côhô,…), một trong những cư dân bản địa Lâm Đồng, có ba  nhóm tộc người: Chin, Srê  và  Lạch.
Tiếng Cơ Ho rất gần gũi với các ngôn ngữ  Mnông, Stiêng, Mạ,... thuộc nhóm ngôn ngữ Nam Ba Na dòng Môn - Khmer, ngữ hệ Nam Á (austroasiatique). Tiếng Cơ Ho cũng như các ngôn ngữ cùng nhóm còn lư­u giữ những nét xư­a của một ngôn ngữ Đông Nam Á cổ. Tiếng Cơ Ho trong quá khứ là một ngôn ngữ vùng, được nhiều dân tộc khác cộng cư sử dụng, nhất là khi người Kinh lên Tây Nguyên còn ít. Dân tộc Cơ Ho Lạch do tiếp xúc với nhiều cư dân khác trong vùng nên nhiều người trước đây nói khá thành thạo các ngôn ngữ  Mnông, Chu Ru, Chăm.    

Phong tục hôn nhân của người Cơ Ho (Hoàng Duy Trần)

Theo số liệu tổng điều tra tháng 4 năm 1999, cả nước ta có 129.723 người (ước tính hiện nay là 158.000 người) thì ở Lâm Đồng là nơi có nhiều người Cơ Ho cư trú nhất (113.200 người và Lâm Đồng được coi là quê gốc của người cơ Ho. Số còn lại được phân bố ở các tỉnh Đồng Nai, Bình Thuận, Ninh Thuận.
Tộc người Cơ Ho có nhiều nhóm với tên gọi là Cơ Ho Srê, Cơ Ho Cơ Ròn, Cơ Ho Nộp, Cơ Ho Lạch và Cơ Ho Chil.

Tìm hiểu về người dân tộc thiểu số Cơ Ho (Thanh Thanh)

Người Cơ Ho, còn được gọi là Cờ Ho, Kơ Ho, hoặc Kơho theo chính tả của tiếng dân tộc Cơ Ho. Đây là một trong những dân tộc thiểu số ở Việt Nam, chủ yếu cư trú tại tỉnh Lâm Đồng.
Về đời sống kinh tế-xã hội

Đặc trưng dân tộc Cơ Ho (Hải Ninh)

Dân tộc K’Ho, còn có các tên khác như: Cơ Ho, Cờ Ho, Kơ Ho, Srê, Nộp, Cơ Dòn, Chil, Lạt (Lạch), T’ring.
Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người K’Ho ở Việt Nam có dân số 166.112 người, cư trú tại 46 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Người K’Ho cư trú tập trung tại các tỉnh: Lâm Đồng (145.665 người, chiếm 12,3% dân số toàn tỉnh và 87,7% tổng số người K’Ho tại Việt Nam), Bình Thuận (11.233 người), Khánh Hòa (4.778 người), Ninh Thuận (2.860 người), Đồng Nai (792 người), Sài Gòn (247 người).

Dân tộc Cờ Ho (Hải Ninh)

Tổng số dân: 128.723
Khu vực có số dân đáng kể Việt Nam: Lâm Đồng, Bình Thuận, Khánh Hòa, Ninh Thuận
Ngôn ngữ: tiếng Cơ Ho, Tiếng Việt
Tôn giáo: Tín ngưỡng dân gian, vật linh
Dân tộc Cơ Ho, còn gọi là Cờ Ho, Kơ Ho, hoặc Kơho, K'Ho theo chính tả tiếng Cơ Ho, là một dân tộc trong số 54 dân tộc tại Việt Nam. Người Cơ Ho nói tiếng Cơ Ho, ngôn ngữ thuộc ngữ chi Ba Na (Bahnaric) thuộc Ngữ hệ Nam Á.

Văn hóa cổ truyền dân tộc Cor: Từ những giá trị đặc trưng (Lý Phương)

 Múa cồng chiêng trong lễ hội ăn trâu. Ảnh: T.Hậu

Giữa đại ngàn với lớp lớp núi cao dốc đứng, sông suối chia cắt ở vùng cao Tây Trà, Trà Bồng (Quảng Ngãi) và Trà My (Quảng Nam) chính là nơi mà hơn 34 nghìn đồng bào dân tộc Cor sinh sống. Từ nguồn gốc, cuộc mưu sinh cho đến văn hóa vật chất, tín ngưỡng, tập tục và mạch sống tinh thần của người Cor đã được ông Cao Văn Chư - Phó Giám đốc Sở VH-TT&DL, tìm hiểu, nghiên cứu một cách đầy đủ, trọn vẹn và chân thực nhất.

Dân tộc Co (Lý Quảng Ninh)

Tên tự gọi: Cor, Col.
Tên gọi khác: Cua, Trầu.
Dân số: 33.817 người (theo kết quả điều tra dân số năm 2009 của Tổng cục thống kê)
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khơ Me (ngữ hệ Nam Á), tương đối gần gũi các dân tộc khác trong vùng bắc Tây Nguyên và lân cận như: Hrê, Xơ Ðăng, Ba Na... Chữ viết ra đời từ thời kỳ trước năm 1975 trên cơ sở dùng chữ cái La-tinh. Hiện nay chữ viết này không không phổ biến nữa.

Dân tộc Co (Lý Quảng Ninh)

Tên tự gọi: Cor, Col.
Tên gọi khác: Cua, Trầu.
Dân số: 33.817 người (theo kết quả điều tra dân số năm 2009 của Tổng cục thống kê)
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khơ Me (ngữ hệ Nam Á), tương đối gần gũi các dân tộc khác trong vùng bắc Tây Nguyên và lân cận như: Hrê, Xơ Ðăng, Ba Na... Chữ viết ra đời từ thời kỳ trước năm 1975 trên cơ sở dùng chữ cái La-tinh. Hiện nay chữ viết này không không phổ biến nữa.

Dân tộc Co (Mai Hạnh)

Dân tộc Co có hơn 29.771 người, cư trú chủ yếu ở huyện Trà My (tỉnh Quảng Nam) và huyện Trà Bbồng (tỉnh Quảng Ngãi). Người Co còn có tên gọi khác là: Cor, Col, Cùa, Trầu. Tiếng Co thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khơmer. Dân tộc Co Co quan niệm vạn vật hữu linh, tin vào thần linh, tiêu biểu là thần lúa.

Độc đáo trang phục của đồng bào dân tộc Co (Vi Đức Tuấn Anh)

Trang phục phụ nữ dân tộc Co huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam

Trang phục của đồng bào Co ở huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam thể hiện nét văn hóa đặc sắc riêng, hàm chứa giá trị sáng tạo, giá trị thẩm mỹ, nhân văn và tình cảm ứng xử trong cộng đồng.   
Sinh sống chủ yếu ở vùng đất Trường Sơn-Tây Nguyên, địa bàn huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam, nét văn hóa riêng, đặc sắc của đồng bào Co đã góp phần không nhỏ vào kho tàng văn hóa vật thể - phi vật thể trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

Dân tộc Co (Vi Đức Cường)

Tên dân tộc: Co (Cor, Col, Cùa, Trầu). Dân số: 27.766 người (năm 1999). Ðịa bàn cư trú: Huyện Bắc Trà My, Nam Trà My (Quảng Nam), huyện Trà Bồng (Quảng Ngãi). 

Dân tộc Co (Việt Hưng)

Tổng số dân;: 33.817 (2009)
Khu vực có số dân đáng kể: Việt Nam: Quảng Ngãi, Quảng Nam
Ngôn ngữ: Tiếng Co, tiếng Việt
Tôn giáo: Vật linh, tín ngưỡng dân gian
Dân tộc Co còn có tên gọi khác: Cor (Kor), Col, Cùa, Trầu. Người Co là một trong số 54 dân tộc ở Việt Nam.
Dân tộc Co nói tiếng Co (Cùa), một ngôn ngữ thuộc ngữ tộc Môn-Khmer.

Người giữ hồn dân tộc Chơro (Đặng Ngọc Thanh)

Vót tên cho chiếc nỏ mới làm.

Từ thuở người Chơro còn ở nhà sàn, sống bằng việc đốt rẫy, săn thú thì chiếc nỏ đã trở thành “cánh tay phải” của những người đàn ông Chơro giữ đất, giữ làng. Cho đến hôm nay, đồng bào dân tộc Chơro đã có cuộc sống khá hơn trước, nhưng chiếc nỏ vẫn là một phần không thể thiếu trong đời sống văn hóa - tinh thần.

Chiếu Lùn – vật dụng vô giá của dân tộc Chơ Ro (Đặng Ngọc Thanh)

Đồng bào Chơ Ro

Chiếu hẳn chẳng ai trong chúng ta cũng biết, bởi nó là vật dụng thân quen và gần gũi trong sinh hoạt hàng ngày của người dân Việt. Với người Chơ Ro (Đồng Nai) chiếu còn là một vật dụng vô cùng quý báu.

Phong tục sinh con ở Chòi của dân tộc Chơ Ro, Đồng Nai (Đàm Vinh)

                                     
                         Phụ nữ Chơ Ro sinh con trong chòi được dựng ngay trong vườn nhà.

Việc sinh đẻ, chăm sóc sản phụ và nuôi dưỡng con cái của người Chơ Ro chủ yếu dựa trên những kinh nghiệm của cuộc sống, kiến thức y học dân gian và những kiêng kỵ liên quan đến tín ngưỡng.
Người Chơ Ro ở buôn Lý Lịch, xã Phủ Lý, huyện Vĩnh Cửu ( Đồng Nai) có phong tục sinh con ở Chòi. Việc dựng chòi sinh con theo quan niệm của người Chơ Ro là để tránh sinh trong nhà lớn sẽ làm ảnh hưởng, mất đi sự linh thiêng của nơi thờ tự khiến tổ tiên cùng các vị thần linh phật ý sẽ gây bệnh tật cho người nhà, bất hòa trong gia đình và mùa màng của buôn thất bát...

Lễ hội Sayangva mừng lúa mới của đồng bào Chơ ro (Lò Văn Páo)

Đồng bào Chơ ro tại ấp Bình Hòa, xã Xuân Phú, huyện Xuân lộc đã tổ chức Lễ hội Sayangva với nhiều hoạt động như: biểu diễn cồng chiêng, các trò chơi dân gian (đẩy gậy, kéo co, đập niêu), biểu diễn văn nghệ và nghi thức cúng thần lúa. 
Đây cũng là dịp để đồng bào dân tộc Chơ Ro tạ ơn thần linh đã cho một mùa bội thu và cầu xin mưa thuận gió hòa để mùa vụ năm sau nhà nhà được no đủ.

Tục "ngủ mèo" trước hôn nhân của dân tộc Chơ ro (Lã Việt Hưng)

Với người Chơ ro, tục "ngủ mèo" không chỉ tạo cơ hội cho các đôi trai gái có thêm cơ hội hiểu nhau trước khi đến hôn nhân, mà cao hơn thế, nó đã trở thành một nét đẹp văn hóa trong phong tục hôn nhân của đồng bào nơi đây.
Từ xưa đến nay, người Chơ ro kết hôn dựa trên sự to do luyến ái giữa những người ngoài dòng họ.

Lễ cúng Yang Pa của dân tộc Chơ ro (Lã Việt Hưng)

Dân tộc Chơ ro thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khơmer, dân số khoảng 27 nghìn người, địa bàn cư trú chủ yếu tập trung đông nhất ở tỉnh Đồng Nai, một số cư trú ở tỉnh Bình Phước và tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu
Tín ngưỡng nguyên thủy của dân tộc Chơ-ro là thờ đa thần và quan niệm mọi vật đều có linh hồn và một trong các thần được đồng bào coi trọng nhất là thần lúa (Yang pa) hay hồn lúa.

Dân tộc Chơ Ro với lễ hội dựng Nêu độc đáo (Hoàng Minh Thái)

Lễ hội dựng Nêu.

Hiện nay, làng dân tộc Chơ Ro ấp Bình Hòa có khoảng hơn 200 hộ sinh sống tập trung. Bà con nơi đây sinh sống bằng nghề làm rẫy, làm thuê để kiếm sống. Tuy đời sống vật chất có phần cực nhọc nhưng ngược lại đời sống tinh thần của bà con nơi đây lại vô cùng phong phú.

Dân ca Chrau-Jro - Chơ Ro (Mai Hường)

Dân tộc Chơ Ro có tên tự gọi là Chrau – JroChrau có nghĩa là Người hay Nhóm ngườiJro có nghĩa là một danh từ riêng chỉ cộng đồng của họ. Họ còn có các tên khác như:Châu ro, Chro, Chrau, Jơ ro, Dơ ro.
Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Chrau-Jro ở Việt Nam có dân số 26.855 người, cư trú tại 36 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Người Chơ Ro cư trú tập trung tại các tỉnh: Đồng Nai (15.174 người, chiếm 56,5% tổng số người Chơ Ro tại Việt Nam), Bà Rịa-Vũng Tàu (7.632 người), Bình Thuận (3.375 người), Sài Gòn (163 người), Bình Dương (134 người), Bình Phước (130 người).

Dân tộc Chơ Ro (Văn Chấn)

Tên dân tộc: Chơ Ro (Ðơ Ro, Châu Ro). Dân số: 22.567 người (năm 1999). Ðịa bàn cư trú: Phần lớn cư trú ở tỉnh Ðồng Nai, một số ít ở tỉnh Bình Thuận. 

Phong tục tập quán:
Coi trọng chế độ mẫu hệ và phụ hệ như nhau. Người Chơ Ro tin mọi vật đều có "hồn" và các "thần linh" chi phối con người, khiến con người phải kiêng kỵ và cúng tế. Lễ cúng "thần rừng" và "thần lúa" là quan trọng. Trước đây sống ở nhà sàn, hiện nay họ đã ở nhà trệt.

Chiếc chiếu Lùn của người Chơ Ro – Đồng Nai (Đức Thắng)

Đồng bào dân tộc Chơ Ro là một trong hơn 11 cộng đồng dân tộc đang sinh sống trong vùng đệm của Khu dự trữ sinh quyển Đồng Nai. Đây là cộng đồng dân cư ít người có tính đại diện cao nhất cho các cộng đồng dân cư có ảnh hưởng đến khu dự trữ sinh quyển Đồng Nai. Đời sống và phong tục tập quán của họ gắn bó mật thiết với thiên nhiên. Chiếc Chiếu Lùn là một sản vật của người Chơ Ro mà chưa mấy ai biết đến.

Dân tộc Chơ Ro (Minh Hằng)

Nhà ở của người Chơ ro

Dân tộc Chơ ro có khoảng 27.000 người, cư trú chủ yếu ở các tỉnh miền Đông Nam Bộ. Người Chơ ro còn có tên gọi khác là Đơ-ro, Châu ro. Tiếng nói của người Chơ ro thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khmer, ngữ hệ Nam Á.

Người Chơ ro sinh sống chủ yếu nhờ làm nương rẫy và ruộng nước. Rẫy của người Chơ ro là rẫy đa canh, mỗi năm gieo trồng một vụ với nhiều loại cây trồng khác nhau.

Dân tộc Chơ Ro (Vũ Cao Quận)

Tên gọi khác: Châu Ro, Dơ Ro, Chro, Thượng.
Dân số: 26.855 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khơ Me (ngữ hệ Nam Á).
Lịch sử: Họ là lớp cư dân cư trú từ xa xưa ở miền núi Nam Ðông Dương.

Dân tộc Chơ Ro (Hoàng Thị Hải)

Người Chơ Ro sống tập trung ở vùng núi thấp thuộc tây nam và đông nam tỉnh Ðồng Nai (56,5%), rải rác tại các tỉnh Bình Dương, Bình Phước và Bà Rịa Vũng Tàu.
Tên tự gọi: Chơ-ro
Tên gọi khác: Châu Ro, Dơ Ro, Chro, Thượng
Nhóm địa phương:
Dân số: 26.855 người, cư trú tại 36 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố.
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khơ Me (ngữ hệ Nam Á).

Vài nét về Người Chơ Ro (Hoàng Bích Khuyên)

Tên tự gọi: Chơ Ro
Tên gọi khác: Châu Ro, Dơ Ro, Chro, Thượng.
Dân số: 26.855 người (Tổng cục Thống kê năm 2009)
Ngôn ngữ và chữ viết: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me (ngữ hệ Nam Á).
Nguồn gốc lịch sử: Họ là lớp cư dân cư trú từ xa xưa ở miền núi Nam Ðông Dương.
Địa bàn cư trú: sống tập trung ở vùng núi thấp thuộc tây nam và đông nam tỉnh Ðồng Nai. Rải rác tại các tỉnh Bình Dương, Bình Phước và Bà Rịa Vũng Tàu.

Tổng Quan Dân Tộc Brâu (Bắc Duy)

1. Vài Nét về Dân Tộc Brâu
Dân số : 322 (2009)
Ngôn Ngữ: hệ ngôn ngữ Nam Á, nhóm ngôn ngữ Môn – Khmer.
Tên gọi khác: người Brạo
Nhóm địa phương:
Địa bàn cư trú: Kon Tum, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Lai Châu, Bình Phước
Địa bàn cư trú:

Thăm người Brâu ở làng Đak Mế - ngã ba biên giới Việt Nam-Lào-Campuchia (Mai Thị Hằng)

Nhà rông của người Brâu ở Kon Tum.

Từ lâu, người Brâu ẩn mình như một tộc người ít được biết đến trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Cho đến tận ngày nay, người Brâu chỉ có chưa đầy 400 nhân khẩu quần tụ với nhau dưới một ngôi làng ở ngã ba biên giới Việt Nam-Lào-Campuchia.

Vẻ đẹp hút hồn của các thiếu nữ dân tộc thiểu số (Lý Quảng Ninh)

 Thiếu nữ dân tộc Thái (Mai Châu- Hòa Bình). Dân tộc Thái là một nhóm dân tộc thiểu số lớn thứ ba ở Việt Nam. Tổ tiên của họ đã tới Việt Nam từ xa xưa, và định cư chủ yếu ở vùng Tây Bắc. Trong ảnh: Thiếu nữ Hương Quỳnh người Thái trắng ở Hòa Bình

Hình ảnh về dân tộc Brâu tại Kon Tum (Hoàng Khuyên)


Âm thực của người Brâu Kon Tum (Hoàng Hải)

Gà rừng nấu lá mì chua

Mùa xuân tràn về cao nguyên, màn sương dày đặc bao phủ kín những ngọn núi, cỏ cây xanh non mờ ảo. Thấp thoáng trong khung cảnh thần tiên ấy, làng Đăk Mế hiện ra xinh xắn, với không khí ấm áp, yên bình. Ngôi làng này là nơi cư trú tập trung của dân tộc Brâu là một trong năm dân tộc có dân số ít nhất ở nước ta, chỉ có 413 người (Cục Thống kê Kon Tum, số liệu thống kê năm 2011).  

Lễ hội đâm trâu của người Brâu (Triệu Thị Bắc)

Nhảy múa truyền thống trước khi làm lễ đâm trâu

Dân tộc Brâu xã Bờ Y, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum-một dân tộc chỉ còn khoảng 330 người, được nhận định là 1 trong 5 dân tộc ít người nhất Việt Nam đã có mặt tại Làng Văn hóa, giới thiệu tới công chúng nếp sinh hoạt của mình trong những ngôi nhà dành riêng cho người Brâu. Theo phong tục, bà con Brâu tổ chức lễ hội đâm trâu mừng về làng mới.

Văn hóa truyền thống dân tộc B’râu (Lý Quảng Ninh)

Dân tộc B’râu còn gọi là B’rao. Nguồn gốc lịch sử dân tộc B’râu ở vùng Nam - Lào và Đông Bắc Campuchia. Đồng bào nhập cư vào Việt Nam khoảng trên dưới 200 năm trong vòng 6,7 đời.
Làng của đồng bào B’râu, làng Đắc Mế đặt nơi gò đồi cao, có mặt bằng phù hợp để dựng làng. Ở vị trí trung tâm làng B’râu dựng ngôi nhà rông truyền thống. Nhà rông B’râu là nơi tụ hội sinh hoạt cộng đồng, vui chơi giải trí đón tiếp khách quý, điều hành việc làng, tập trung lực lượng bảo vệ làng. Các ngôi nhà của cư dân B’râu trong làng đều quay đầu hồi có cửa chính hướng về phía nhà rông như một sự quy tụ, thể hiện tín ngưỡng đối với vị trí thiêng liêng của cộng đồng.

Dân tộc Brâu (Hoàng Mai)

Người Brâu uống rượu cần

Dân tộc Brâu còn gọi là Brao, cư trú tập trung ở làng Đăk Mế, xã Bờ Y, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum. Tiếng Brâu thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khmer.
Đồng bào quan niệm "vạn vật hữu linh". Pa xây là vị thần sáng tạo ra vũ trụ, trời, đất, sông, suối, mưa, gió, sự sống và cái chết.

Dân ca Bru-Vân Kiều (Việt Hưng)

 Người Bru-Vân Kiều (còn gọi là người Bru, người Vân Kiều, người Măng Coong, người Trì hay người Khùa) là một dân tộc thiểu số. Ngôn ngữ của họ là tiếng Bru, một ngôn ngữ thuộc ngữ chi Cơ Tu của ngữ tộc Môn-Khmer.
Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Bru-Vân Kiều ở Việt Nam có dân số 227.716 người, cư trú tại 39 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Người Bru-Vân Kiều cư trú tập trung tại các tỉnh:
Quảng Trị (55.079 người, chiếm 73,9% tổng số người Bru-Vân Kiều tại Việt Nam)
Quảng Bình (14.631 người, chiếm 19,6% tổng số người Bru-Vân Kiều tại Việt Nam)

Triều đại cuối cùng của vương quốc Champa (Dominique Nguyễn)

Chính sách Nam Tiến của Đại Việt làm cho Champa mất dần các tiểu vương quốc Indrapura (Quảng Bình, Quảng Trị), Amaravati (Quảng Nam, Huế) và nhất là sự thất thủ Vijaya (Bình Định) vào năm 1471. Mặc dù 3 khu vực này đã rơi vào tay của Đại Việt, nhưng Champa vẫn còn giữ được chủ quyền tại tiểu vương quốc Panduranga (Phú Yên, Nha Trang, Phan Rang, Phan Thiết) cho đến năm 1832 Minh Mạng quyết định xóa bỏ vương quốc này trên bản đồ Đông Dương.

Trang phục dân tộc Brâu (Lý Quảng Ninh)

Từ bao đời nay, người dân Brâu thường du canh du cư hết nơi này đến nơi khác để đốt rừng làm rẫy, trồng các loại thực phẩm như ngô, lúa, khoai… có thể vì vậy mà trang phục của người dân Brâu khá đơn giản.
Cách mặc của đồng bào Brâu rất giống người Ca dong ở các làng lân cận và có cá tính riêng trong tạo hình và trang trí hoa văn họa tiết.

Nhạc cụ của dân tộ Brâu tại tỉnh Kon tum (Minh Bắc)

Trong cuộc sống, người Brâu thích dùng tiếng hát để biểu lộ cảm xúc. Các bài hát dân ca Brâu mang nhiều nội dung khác nhau thường gắn với các sinh hoạt cộng đồng như Ohđơm (lễ ăn cơm mới), Loong krạ (lễ ăn hỏi), Pri jông (lễ cưới), hoặc Mộ mư (hát kể chuyện)…
 Nhạc cụ của người Brâu có các nhóm nhạc cụ hơi (bhău, lôr, đinh buk), nhạc cụ tự thân vang (chiêng) và nhạc cụ dây (bôồng bôồng, đinh goong pe play, đinh goong sơng play).

Chiêng Tha của người dân tộc Brâu ở Tây Nguyên khó bảo tồn (Triệu Thị Bắc)

Trong kho tàng nhạc cụ dân gian Tây Nguyên, mỗi nhạc cụ là biểu tượng, vật báu của từng tộc người, là linh hồn của buôn làng. Với người Brâu ở làng Đăk Mế, xã Bờ Y, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum, chiêng Tha chính là biểu tượng của tinh thần, là thần linh che chở, bảo trợ cho gia đình có được cuộc sống ấm no, yên bình.

Dân tộc Brâu (Hoàng Thị Hải)

Tên dân tộc: Brâu (Brạo). Dân số: 313 người (năm 1999). Ðịa bàn cư trú: Làng Ðăk Mế, xã Bờ Y, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum. 
Phong tục tập quán:
Tự do lấy vợ, lấy chồng, đám cưới tiến hành ở nhà gái, chàng rể phải ở lại nhà vợ khoảng 2 - 3 năm, rồi mới làm lễ đưa vợ về nhà mình. Ngôi nhà truyền thống là nhà sàn.

Dân tộc Brâu (Chu Tiến Mạnh)

Tên gọi khác:Brao.
Dân số: 397 người (theo kết quả điều tra dân số năm 2009 của Tổng cục thống kê)
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khơ Me (ngữ hệ Nam Á).
Lịch sử: Người Brâu chuyển cư vào Việt Nam cách đây khoảng 100 năm. Vùng Nam Lào và Ðông Bắc Campuchia là nơi sinh tụ của người Brâu. Hiện nay, đại bộ phận cộng đồng này vẫn quần cư trên lưu vực các dòng sông Xê Xan (Xê Ca Máng) và Nậm Khoong (Mê Kông). Người Brâu có truyền thuyết Un cha đắc lếp (lửa bốc nước dâng) nói về nạn hồng thuỷ.

Trang phục truyền thống của dân tộc Brâu (Vi Đức Cường)

Trang phục của người Brâu

- Là cư dân sinh sống ở  vùng đất Tây Nguyên đa dạng và giàu bản sắc văn hoá, dân tộc Brâu từ lâu đã hình thành phong tục tập quán riêng và một trong  những nét văn hoá đặc sắc được thể hiện qua các bộ trang phục độc đáo của mình.

Dân tộc Brâu (Hoàng Thao)

Đàn ông Brâu với trang phục truyền thống
Tên tự gọi: Brâu
Tên gọi khác: Brao.
Số dân: 397 người (Tổng cục Thống kê 2009)
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khơ Me (ngữ hệ Nam Á).
Nguồn gốc và lịch sử: Người Brâu chuyển cư vào Việt Nam cách đây khoảng 100 năm.
Địa bàn cư trú: Người Brâu ở Đắc Mế, xã Bờ Y, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum.
Đặc điểm kinh tế: Người Brâu trồng lúa, ngô, sắn trên rẫy là chủ yếu. Săn bắt, hái lượm còn chiếm vị trí quan trọng trong đời sống. Trong làng có lò rèn để tu sửa nông cụ.

Dân tộc Brâu (Mai Hạnh)

Dân tộc Brâu Tổng dân số: 30.000-40.000
Khu vực có số dân đáng kể: Campuchia (14.000?) Lào (13.000-24.670, Việt Nam (322)
Ngôn ngữ: Tiếng Brâu, tiếng Việt.
Tôn giáo: Vật linh.