Dân Tộc Ca Dong An Cư Lạc Nghiệp Vùng Đất Mới. * Biên Khảo Huỳnh Tâm.

Ngôi làng mới của dân tộc Ca Dong thường xây dựng thoang thoảng trên ờn núi rất thoáng đãng, có nguồn nước chảy về làng, Có nhiều gia đình cùng dòng máu hoặc không cùng. Già làng gọi là Kraq-Plài, Làng gọi (Plài) đại diện cho cả làng, lấy quyết định cho mọi vấn đề của làng, như chăm nom, bảo vệ địa giới làng, hay hòa giải, giao tiếp khác, dạy bảo con cháu giữ gìn phong tục tập quán, đôn đốc sản xuất, chủ trì các lễ thức tín ngưỡng của làng, xử lý tranh chấp, vi phạm luật tục.
Văn hóa ẩm thực sử dụng tre nứa, cây mây làm phương tiện chiếc rựa.
Dân tộc Ca Dong dựng nên những ngôi nhà sàn truyền thống vững chắc theo. Một nhà có thể chung sống sinh hoạt hai, ba thế hệ. Mọi người trong nhà cùng làm cùng hưởng, sống hòa thuận, bình đẳng hạnh phúc.
Trước những hiện tượng tự nhiên đầy huyền bí, đầy thử thách trước dòng "bể khổ" trong xã hội loài người khiến con người có lúc bất lực. Cho nên dân tộc Ca Dong tiếp nhận vạn vật trong thế gian đều có linh hồn, có các vị thần ma, đấng tối cao đầy quyền năng điều khiển mọi hoạt động và sự sống chết của con người. Con người muốn làm việc gì điều phải có sự cúng kiến cầu xin và cho phép của thần linh. Từ đó hình thành các lễ thức tín ngưỡng theo thuyết "vạn vật hữu linh", cúng bái các vị thần trời (Ta-roc, Vu rai); vị thần đất (Yaq  Ta-neh), thần nước (Yaq ko, Hwing). Nữ thần sáng tạo con người (Y kôh-y kah), thần núi (Pa-gep) và các hồn ma, tổ tiên ông bà (Vóc mong). Người dân tộc Ca Dong gọi thần linh là Kan Kiêc, gọi hồn ma là Kiêc Choc. Cúng kiếng cầu mong điều lành, cầu mong những ước nguyện tốt đẹp của con người được trở thành hiện thực.
Khi đến vụ mùa thu hoạch, người dân tộc Ca Dong tổ chức cúng máng nước, một hình thức lễ tục cố kết cộng đồng, cầu xin sức khỏe, mùa màng tươi tốt, gia súc gia cầm sinh sôi phát triển. Cúng ông bà chuồng, cúng thần linh và tổ chức ăn tết. Tết ăn theo làng, hết làng này tới làng khác, đó là lễ hội lớn của cộng đồng người Ca Dong.
Ngoài lễ tết, còn có lễ hội ăn trâu (Kaq-ka-pơ). Tuy là lễ của gia đình nhưng cả họ hàng làng xóm cùng góp sức chung lo. Lễ đâm Trâu thường tổ chức vào tháng 3, tháng 4 âm lịch. Mục đích tạ ơn thần linh, tổ tiên, khoản đãi bà con họ hàng làng xóm khi gia đình tai qua nạn khỏi, làm ăn phát tài lộc.
Nét độc đáo của lễ hội đâm Trâu là hình tượng cây nêu (Loang gâng), một hình tượng mang đậm bản sắc dân tộc. Cây nêu được làm công phu tốn kém thời gian cả tháng với những chi tiết trang trí độc đáo, uy nghi hùng dũng. Qua lễ hội, bản sắc tinh hoa ở trang trí cây nêu, ở trang phục, trang sức, ở nghệ thuật diễn xướng: âm nhạc, múa hát, yếu tố cố kết cộng đồng được biểu lộ tập trung nhất, rõ ràng nhất.
Người dân tộc Ca Dong, mặc dù cuộc sống khó khăn, vất vả nhưng bản chất cần cù kiên nhẫn, thật thà chất phác và rất lạc quan, đã vượt qua tất cả để sinh tồn phát triển giống nòi cho tới hôm nay. Từ bản chất tốt đẹp đó, từ xa xưa Ca Dong đã có tục làm chòi để lúa xa nhà, tục để của trong vườn, ngoài khe, không lấy trộm của nhau.
Dẫu nghèo khổ, neo đơn, cơ cực vẫn không ăn xin. Trai gái không hòa gian, vợ chồng con cái sống hòa thuận hạnh phúc. Trọng danh dự, tự tôn, tự lập, tình làng nghĩa xóm.
Trong chế độ hôn nhân, người dân tộc Ca Dong theo nguyên tắc một vợ một chồng, nam nữ tự do tìm hiểu kết hôn nhưng vẫn phải có mối mai làm trung gian thì mới thành vợ thành chồng.
Ngày xưa dân tộc Ca Dong cũng có tệ nạn tảo hôn nhưng khác với người Hrê là nam nữ đã lớn khôn, chứ không tảo hôn "hứa miệng trước" (Poic lơiq) khi hai người phụ nữ chưa mang thai hoặc đang mang thai hoặc con còn bé dại. Trong quan hệ nam nữ, tình giao trước đám cưới bị cấm ngặt. Tội hủ hóa bị phạt nặng, loạn luân bị quy vào trọng tội. Nghiêm cấm hôn nhân cùng huyết thống trong phạm vi ba đời, cả phía cha lẫn phía mẹ.
Dân tộc Ca Dong có tri thức dân gian phong phú, cuộc sống để sinh tồn phát triển. Có một nền văn hóa nghệ thuật đa dạng mang đậm bản sắc dân tộc. Trong đó có truyện cổ vừa kể vừa hát, kể mấy đêm liền không hết một câu chuyện. Có thành ngữ, câu đố, đồng dao đúc kết từ trong quan hệ ứng xử, từ kinh nghiệm lao động sản xuất. Có dân ca mượt mà Kalêu, Ra ngêq, Ru con. Có múa dân gian "Ka cheu" xung quanh cây nêu ngày lễ đâm trâu. Đặc biệt Ca Dong có một nền âm nhạc phong phú, nhiều loại hình đánh, gõ, thổi, vỗ, kéo rất độc đáo.
Về chiêng (ching), loại 6 chiếc gọi là Chinh-Kan, loại 12 chiếc gọi là Ching-Hlinh, loại ba chiếc gọi là Ching-Piq ka tah (chiêng ba). Trống có tên là Hơ-gâr. Đàn có đàn Vroac ba dây, Vroac goang 8 dây, Vroac krâu từ 8 đến 16 dây. Đàn kéo có Ra-đong, đàn môi có Ra-ngoiq, đàn ngậm nói có A-vam. Đàn gõ trên cây nứa có Tờ-rưng. Đàn nứa đặt trên nước có A-khung.
Từ xưa, đất đai ở Sơn Tây thuộc sở hữu tập thể làng, đã từng xảy ra việc tranh chấp rừng giữa các làng. Bên thắng không chỉ chiếm đất chiếm rừng mà còn chiếm cả người về làm nô lệ. Tuy chưa có sự phân hóa giai cấp, nhưng từ thực tế trên đã hình thành trong cộng cồng bốn thành phần: Người giàu, Người đủ ăn, Người nghèo và Đầy tớ. Những già làng giàu có chỉ đếm trên đầu ngón tay như: Yaq Ơn, Phó Nía, Cha Kây, Phó Hủy, Phó Xơn. Mỗi hộ thường có 30 gùi giống lúa rẫy (một gùi độ 5 ang giống), vài chục con trâu, dê, heo, 5 hoặc 7 bộ chiêng, vài chục ché, ba bốn chục nồi 7 nồi bung, vài đồi quế, mấy vườn cau, từ 5 đến 10 người ở làm đầy tớ (Ha-pong).
Người đủ ăn không nhiều, họ là hộ có người lao động, có ruộng rẫy đủ làm, có ít trâu, dê, heo, gà, ít rẫy quế, vườn cau để đổi chác sinh sống qua ngày.
Người nghèo chiếm đến 95% dân cư, phần đông chỉ có rẫy, làm vài gùi lúa giống, một năm làm một vụ rẫy, thiếu đói năm, sáu tháng. Hộ thiếu người lao động hoặc ốm đau, chết chóc phải vay mượn nhà giàu.
Tầng lớp đầy tớ có hai loại: Loại thiếu đói phải đi ở mướn cho nhà giàu để kiếm sống. Loại nhà nghèo rủi ro vi phạm luật tục của làng bị phạt vạ, phải đi vay mượn nhà giàu, không trả nổi nợ phải làm đầy tớ, bị khinh rẻ.
Tuy nhiên, xã hội cộng đồng tộc người Ca Dong trước đây, mối quan hệ kinh tế giữa các tầng lớp cư dân mang nhiều tính tương trợ hơn là bóc lột. Vì vậy, khối cố kết cộng đồng của tộc người Ca Dong được xây dựng khá bền vững từ lâu đời. Sau này các cư dân khác như người Hrê, Cor, Việt sinh sống ở Sơn Tây đều chịu sự tác động trong mối quan hệ kinh tế của người Ca Dong.
Trải qua các  thế hệ nối tiếp nhau cộng đồng cư dân Ca Dong cùng với các cộng đồng Hrê, Cor, Việt đã tiếp thu, học hỏi, xây đắp cho nhau tính cách cần cù, kiên nhẫn trong lao động sản xuất, trọng danh dự, nói là làm, tin là theo, không ưng là chống.
* Biên Khảo 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét