Theo các sách sử đã viết thì vùng đất huyện Sơn Tây từ đầu thế kỷ XV nằm trong địa phận Cổ Lũy động, thuộc lãnh thổ quốc gia Đại Ngu
dưới triều nhà Hồ.
Sau bao thế kỷ biến đổi, năm 1832 (niên hiệu Minh Mạng thứ
13), Cổ Lũy động trở thành tỉnh Quảng Nghĩa, về sau gọi là tỉnh Quảng Ngãi. Gồm sáu phủ, huyện Trung Châu và bốn nguồn thượng du, trong đó có nguồn "Cù Bà" sau được đổi tên "nguồn Thanh Cù". Năm 1899 (niên
hiệu Thành Thái thứ 11), nguồn Thanh Cù đổi thành "nha Sơn Hà", "đồn Sơn Hà", rồi "Châu Sơn Hà", "Tổng Ca Dong" nằm trong "Châu Sơn Hà". Các làng thuộc tổng Ca
Dong được ghép lại thành một xã mang tên xã Sơn Tinh trực thuộc huyện Sơn Hà.
Năm 1994, chia tách huyện Sơn Hà thành hai huyện: Sơn Tây và Sơn Hà.
Từ những năm 1908,
nhiều người Hrê ở Ba Tơ, Minh Long,
nhất là Sơn Hà, lên vùng Sơn Tây làm ăn sinh sống và cùng với người Ca Dong.
Thời gian dài cùng chung
sống và liên hệ mọi sinh hoạt cuộc sống không thể không có quan hệ hôn nhân. Sự hòa huyết giữa người Ca Dong và người Hrê đã tạo nên một cư dân gọi là người Ka-Tua. Sinh hoạt, ngôn ngữ, phong tục tập quán hài hòa giữa hai dân tộc. Ngày nay ở huyện Sơn Tây, trừ người Ca Dong ở xã Sơn Bua, người Ca Dong ở
các xã còn lại đều nói chủ yếu bằng tiếng Hrê, ngôn ngữ Ca Dong ít sử dụng. Tuy nhiên, cách
phát âm nhanh, nặng, không rõ ràng và dịu dàng, ngọt ngào như cách phát
âm của người Hrê.
- Về Dân Số:
Số liệu người Ca Dong tại tỉnh Quảng Ngãi có 20.082 người.
- Về ngôn ngữ:
Cũng giống hai dân tộc anh em Hrê, Cor,
dân tộc Ca Dong thuộc ngôn ngữ Môn Khơ Me hệ Nam Á. Cho đến nay dân tộc Ca Dong chưa có chữ viết, nhưng có tiếng nói, có phong tục tập quán tín ngưỡng, có lễ hội, có nhạc khí mang đậm bản sắc của dân tộc Ca Dong.
- Đặc điểm địa lý tự nhiên:
Sơn Tây nằm về phía cực tây của tỉnh. Phía đông và đông nam giáp huyện Sơn Hà. Phía tây nam
giáp huyện Kon Plong của tỉnh Kon Tum. Phía tây bắc giáp nam Trà My tỉnh Quảng Nam và huyện Tây Trà tỉnh Quảng Ngãi.
Sơn Tây có độ cao từ
400m đến 1.900m so với mặt biển. Khí hậu Sơn Tây nằm trong vùng gió mùa Á
nhiệt đới, có hai mùa rõ rệt: Mùa khô và mùa
mưa. Mùa khô từ tháng 1 đến tháng 8. Mùa mưa từ cuối tháng 8 đến tháng 12, sớm hơn vài tháng so với đồng bằng. Khí hậu thích hợp với sức khỏe con người và phát triển các loại cây trồng.
Tuy nhiên cũng có những năm Sơn Tây phải chịu hạn hán, lũ lụt bão rất khắc nghiệt làm ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống cộng đồng.
Huyện Sơn Tây có tổng diện tích tự nhiên 41.893 ha,
trong đó diện tích núi rừng chiếm 4/5 (trên 3.000ha). Địa hình Sơn Tây gắn liền với bắc Kon Tum, là một khối đá biến chất rất cổ, có nhiều mạch ga-ra-nít cắt ngang tạo nên những ngọn núi cao như núi Hoăn-Plấc cao 1.900m ở Sơn Tân, Sơn Tinh. Núi
Gò Tăng cao 1.608m ở Sơn Mùa. Núi Ha-Neng cao 1.483m ở Sơn Tân, Sơn Dung. Ngoài ra có hàng chục núi khác cao từ 500m đến
1.000m như núi A-Din cao 1.406m ở Sơn Tinh, Sơn Dung. Rừng núi Sơn Tây nối liền với dãy Ngọc An, Ngọc Linh ở phía bắc Kon Tum tạo thành thế liên hoàn hiểm trở. Rừng Sơn Tây có nhiều loại gỗ quý như lim, sến, sơn, chò, hương, gõ, và nhiều thú quý như hổ, gấu, sơn dương,
trăn, dộc, khỉ. Nhiều dược liệu và lâm đặc sản như mật ong, trầm hương, trầm kỳ, ở Sơn Mùa có mỏ đá vôi làm nguyên liệu xây dựng. Vùng ngã ba Đắc Tà Meo, Ra Manh, Sông Rin ở thôn 2 xã Sơn Mùa,
giáp giới xã Đắc Rin, xã Đác Nâm huyện Kon Plong tỉnh Kon Tum có suối nước nóng từ 50oC–70oC. Đất đồi rừng và triền núi Sơn Tây thích
hợp phát triển các loại cây công nghiệp như cau, quế, song mây, và thuận lợi chăn nuôi trâu,
bò, dê.
Sơn Tây có hai con sông lớn bắt nguồn từ Kon Tum, đó là sông Rin
(Deac Ka’ring) và sông Xà Lò (Deac Ha-Lo), chảy xuống huyện Sơn Hà, góp phần tạo nên đầu nguồn sông Trà Khúc,
con sông lớn nhất của tỉnh Quảng Ngãi. Ngoài sông, Sơn Tây có rất nhiều suối. Sông suối Sơn Tây có loại cá chình (Ha-lơi), cá niêng (Ka-I ling) rất ngon. Có nơi chứa vàng
sa khoáng. Nhiều đoạn có độ dốc cao nước chảy mạnh làm được thủy điện, thủy lợi. Nhưng mùa mưa chảy xiết gây xói mòn, sạt lở bờ kè. Sơn Tây cũng có nhiều cảnh đẹp, như thác Lụa, thác Huy, Măng sáng chiều in bảy sắc cầu vồng, và suối nước nóng Tà Meo bốc hơi nghi ngút.
- Văn hóa, xã hội.
Mặc dù sản xuất luân canh, quần canh "tự cung, tự cấp", suốt đời vật lộn với
thiên nhiên khắc nghiệt để mưu
sinh, duy trì cuộc sống nhưng dân tộc
Ca Dong có đời sống văn hóa, tinh thần vô cùng đa dạng, phong phú và một xã hội bình đẳng công bằng bác ái.
Dân tộc người Ca Dong không có chế độ mẫu hệ, nhưng người phụ nữ trong gia đình được coi trọng, và sự phân công lao động rất hợp
lý. Người đàn ông được coi là trụ cột gia đình, làm những công việc nặng nhọc như phát rẫy, cuốc ruộng, làm nhà cửa, lo cúng bái. Người phụ nữ trong gia
đình làm những công việc nội trợ, chăn nuôi, dệt vải, thu hoạch.
Nếu người cha dạy con trai biết làm ruộng rẫy, nhà cửa, săn bắn, đánh bắt cá, đan lát mây
tre, đánh chiêng, đánh đàn, thì người mẹ dạy con gái cần cù siêng năng, biết dệt vải,
biết công việc nội trợ, chăn nuôi heo gà, nuôi dạy con cái.
Người chủ gia đình là người Mẹ, biết chăm sóc các lễ thức có liên quan đến hồn lúa. Khi thu hoạch lúa, bà là người đầu tiên thu hoạch "phép" và đưa hồn lúa về nhà.






Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét