Lễ cúng nương cổ truyền của dân tộc Xá Phó (Nông Quang Khải)

Lễ cúng nương cổ truyền của người Xá Phó
Người Xá Phó ở Việt Nam hiện nay có khoảng 7.000 người cư trú tập trung chủ yếu ở tỉnh Lào Cai và Yên Bái, tên tự gọi là “Lão Va Sơ” hoặc Bồ Khô Pạ, Phù Lá Lão… Người Xá Phó là một dân tộc thiểu số còn lưu giữ được nhiều vốn văn hoá dân gian truyền thống, đặc biệt trong nghi lễ nông nghiệp như tết cơm mới, lễ đuổi ma quét làng, lễ lấy nước cầu may, lễ mừng thầy cúng, lễ cúng nương. Trong đó lễ cúng nương là một nghi lễ nông nghiệp đặc sắc của người Xá Phó.

Lễ cúng nương, tiếng Xá Phó gọi là “Sê mi su to ba”, “sê” có nghĩa là lúa, cây lúa; “mi su” có nghĩa là chia đất; “to ba” có nghĩa là mâm cúng. Ghép lại có nghĩa là mâm cúng chia đất cho nương lúa, gọi cách khác là lễ cúng nương. Lễ cúng nương được tổ chức ở từng gia đình nhưng trong phạm vi cả cộng đồng nhằm mục đích cầu cho mùa màng tươi tốt, bội thu… mang lại cuộc sống ấm no hạnh phúc.


Vào tháng 5 âm lịch hàng năm người Xá Phó chuẩn bị cho vụ mùa làm nương mới cầu mong cho năm đó mùa màng tốt tươi, bội thu. Để chuẩn bị tốt lễ cúng, gia đình tìm chọn ngày tốt, sắm sửa lễ vật và giống thóc tốt nhất, trang phục mới, các vật dụng có liên quan và đặc biệt phải nhờ anh chị em trong làng về giúp. Bà chủ đi mời mọi người đến giúp tra lúa thì phải lựa chọn đủ đôi có nam có nữ. Người đi giúp phải là người có gia đình trong sạch tức là gia đình không có tang.
Buổi sáng sớm hôm đi tra lúa, bà chủ chuẩn bị lúa giống và các thứ khác, sau đó nấu cơm cho tất cả mọi người. Những người đến giúp, nam giới mang gậy chọc lỗ, nữ giới mang ống hoặc giỏ đựng. Số người đi hôm đó phải là số chẵn, cứ từng cặp vợ chồng, nam - nữ thành một đôi, đem theo địu và cây húng lúa. Sở dĩ phải đủ cặp vì quan niệm của tộc người Xá Phó số chẵn - có đôi là biểu tượng của sự viên mãn, sự sinh sôi phát triển…
Ngay từ sáng sớm các thành viên đến giúp cùng vợ chồng chủ nhà chuẩn bị lễ vật cho vào gùi đi đến nương, theo thứ tự hai vợ chồng chủ nhà đi trước những cặp khác theo sau. Bà chủ nương có nhiệm vụ đeo địu thóc giống, người chồng mang đồ lễ và làm nhiệm vụ phát quang đường.


Trước đó, các mảnh nương đã được phát dọn sạch sẽ chỉ chờ ngày cúng và tra lúa mới. Thông thường, gia đình có nhiều nương sẽ chọn một mảnh nương to và rộng nhất dùng làm nơi hành lễ - cúng cho ma nương “Kha co mà sờ bá”. Lễ vật dâng cúng cho ma nương gồm một con gà trống lông màu đỏ đẹp, xôi 5 mầu, 1 chai rượu, 1 gói cơm tẻ, 1 vòng tay bạc, 1 vòng cổ bạc, 1 đĩa lá trầu không, một đĩa vôi bột, 1 cum lúa nếp, 1 con dao nhọn, hương nhang…
Khi tới nương vợ chồng chủ nương để gùi vào trong lán chuẩn bị làm mâm cúng. Ông chủ nương lấy dao chặt một cây nứa hoặc cây vầu trẻ làm 8 nan để cắm ở đầu nương dùng làm chỗ đặt mâm cúng. Chủ nương còn cắt một tầu lá chuối và lấy cả hoa chuối rừng (loại vỏ vàng) với quan niệm của tộc người hoa chuối vàng tượng trưng cho hạt thóc giống, hạt lúa vàng, mùa màng bội thu. Nơi bày mâm cúng, chủ nhà lấy tầu lá chuối dải quay cậng về hướng đông - là hướng của sự sống và sự phát triển. Rồi lấy cum lúa vàng đặt ở giữa tầu, lấy vòng bạc cổ đeo vào cum lúa, con gà làm lễ cúng được chủ nương đeo cho vòng cổ bạc với ý nghĩa làm đẹp. Quan niệm lúa có hồn, đeo vòng bạc để giữ hồn lúa ở lại nương sang năm cho mùa màng tốt tươi, lúa chắc hạt, bông to vàng như hoa chuối. Chiếc vòng bạc và việc đeo vòng bạc vào cổ gà có ý nghĩa bảo vệ con gà dâng cho ma nương, ma rừng, ma trời cho gà ngon, đẹp. Tất cả các thứ lễ vật đều được chủ nương bày xếp trong tầu lá để dâng cúng ma nương. Ngay trong cách sắp lễ đã thấy được ước nguyện của tộc người cầu mong cho mùa màng tươi tốt. Nghi lễ cúng nương là một nghi lễ đặc biệt được cả cộng đồng coi trọng, là tín ngưỡng nông nghiệp cổ truyền vẫn còn được duy trì cho đến ngày nay.


Người Xá Phó quan niệm ma nương là loại ma trú ngụ ở nương lúa, nương ngô liên quan đến mùa màng. Do đó, trước ngày tra lúa các chủ nương phải làm lễ cúng chia lễ vật, chia đất cho ma nương để nhằm mục đích cầu mong mùa vụ tốt tươi không bị mất mùa. Nếu không cúng cẩn thận sẽ bị ma nương nổi giận cùng với ma trời, ma rừng chiếm hết đất tốt, làm cho cây lúa bị sâu dịch, hạt lép. 
Mâm lễ sau khi đã bày xong, chủ nương dùng dao chẻ lấy đủ 8 nan cắm 2 nan chéo nhau tạo thành chữ u xuống đất xung quanh tàu lá chuối làm 4 góc, có ý nghĩa trang trí làm đẹp cho mâm lễ. Sau đó, chủ nương (thường là bà chủ) đọc bài cúng có đại ý như sau: “Chủ nương tôi là…. họ … hôm nay ngày tốt đi tra lúa nương có đem con gà, rượu, cơm, thóc cum dâng cúng cho ma nương, thần thổ đất, ma trời mời các vị về nhận cho, ăn no uống đủ  xin đừng tranh đất của tôi. Ăn xong cầu mong sự phù hộ cho gia đình trồng lúa được tươi tốt, không bị sâu dịch, bệnh lúc thu hoạch bông lúa to như hoa chuối, vàng như cát ở sông suối ”.
Chủ nương cúng lần hai, quay về trước mâm lễ và đọc bài cúng có ý nghĩa tương tự như lời cúng ở trên và hứa hẹn với các ma nương nếu giúp đỡ cho cây trồng phát triển sang năm lại được thờ cúng chu đáo. Cúng xong, chủ nương cúi người lạy một lạy để cảm ơn các ma. Khi đó, những người được nhờ giúp tra lúa đang ngồi trong lán bắt đầu lên giọng hỏi thật to: Chủ nương đã làm lễ xong chưa? Làm xong rồi, xong rồi, chủ nương đáp. Lúc này, đôi vợ chồng chủ nương mang dụng cụ và thóc giống vào vị trí thật nhanh, chồng húng vợ tra, húng từ đầu nương xuống dưới, lần lượt những đôi khác cùng vào vị trí người húng người tra hạt. Theo phong tục người húng lúa phải cầm gậy chọc lỗ phải là nam giới, còn người bỏ hạt thóc vào lỗ và lấp đất là nữ giới. Từng đôi từng cặp phối hợp tra lúa nhịp nhàng, khi người nam chọc đầu húng xuống dưới tạo thành một hố nhỏ thì người nữ tay cầm hạt thóc giống ném trúng vào giữa hố và dùng chân xoa đất từ trên xuống cho khỏi mưa trôi. Động tác trọc lỗ tra hạt mang biểu tượng của tính phồn thực, giữa người nam và người nữ có sự phối hợp nhịp nhàng cầu mong sự sinh sôi phát triển, mùa màng tươi tốt, bội thu. Sở dĩ, đôi vợ chồng chủ nương phải thực hiện nhanh động tác húng lúa và tra hạt trước nhằm mục đích cầu cho mùa màng năm đó tươi tốt, cây lúa sinh sôi phát triển, bông chắc và hạt mẩy. Còn nếu đôi vợ chồng làm bị chậm, tộc người quan niệm năm đó lúa bị kẹ lá, hạt lép có khi làm không được ăn. Với ý nghĩa đó đôi vợ chồng chủ nương phải húng tra lúa trước, các đôi khác cũng phải làm thật nhanh theo vợ chồng chủ nương nhằm mục đích cầu mùa cho nhà chủ.
Sau khi tra xong mảnh nương, chủ nương hô hào mời tất cả anh chị em tập trung về phía mâm lễ để làm lý ăn cầu may, cầu cho được mùa no đủ. Mọi người cùng nhau dùng tay bốc cơm tẻ, xôi để ăn, uống rượu… Tuy nhiên, người được ăn trước là vợ chồng chủ nương và khi ăn không được ăn hết mà phải để lại một ít phần cho ma nương, ma rừng có như thế ma nương, ma rừng mới phù hộ tốt cho nương rẫy, cho vụ mùa được bội thu còn nếu ăn hết tộc người quan niệm năm đó làm nương không được ăn, chim chuột về phá nương, cây lúa không mọc được chỉ còn mảnh nương trơ chọi.
Nghi lễ cúng nương của người Xá Phó là một nghi lễ nông nghiệp giàu bản sắc văn hóa, chứa đựng nhiều nét độc đáo, riêng biệt. Nó phản ánh tín ngưỡng cầu mùa của cư dân nông nghiệp đã gắn chặt với đời sống của người Xá Phó ở Lào Cai. Lễ cúng nương không chỉ có giá trị về mặt văn hóa dân gian mà còn chứa đựng nhiều tri thức bản địa về khai thác nương rẫy cần được duy trì và bảo tồn.

 Nông Quang Khải

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét