Đồng bào dân tộc Pu Péo sinh sống trên
vùng Cao nguyên đá Hà Giang vẫn gìn giữ được nhiều phong tục tập quán mang bản
sắc của dân tộc mình. Trong đó độc đáo nhất là bộ trang phục truyền thống.
Dân ca Pu Péo (Phạm Khái Hưng)
Dân tộc Pu Péo (tên gọi
khác Ka Beo, Pen ti lô lô, La quả) là một dân tộc thiểu số
thuộc hệ ngôn ngữ Tai-Kadai, nói giỏi tiếng H’Mông, Quan hỏa, cư trú tập trung ở
vùng biên giới Việt-Trung thuộc các huyện Đồng Văn, Yên Minh, Mèo Vạc tỉnh Hà
Giang.
Dân tộc Pu Péo (Hoàng Phưng)
Tên tự gọi: Kabeo.
Tên gọi khác: La Quả, Penti Lô Lô.
Dân số: 687 người (theo kết quả điều tra dân số
năm 2009 của Tổng cục thống kê)
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm Ka Ðai (ngữ hệ Thái - Ka Ðai). Người Pu Péo nói giỏi tiếng Hmông, Quan hoả.
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm Ka Ðai (ngữ hệ Thái - Ka Ðai). Người Pu Péo nói giỏi tiếng Hmông, Quan hoả.
Dân tộc Pu Péo duy nhất chỉ có ở Hà Giang (Phùng Mai)
Nhà ở của người Pu Péo
Từ lâu người ta đã xác định rằng người Pu Péo là một trong
những cư dân lâu đời nhất ở vùng cao cực bắc Hà Giang. Họ cũng được xem là một
tộc người chỉ duy nhất có mặt sinh sống ở Hà Giang. Người Pu Péo chủ yếu cư trú
tại xã Phố Là (huyện Đồng Văn); Sủng Tráng và Phú Lũng (huyện Yên Minh) và một
số ít còn lại sống ở xã Yên Cường (huyện Bắc Mê). Theo số liệu thống kê năm
2005 thì dân số tộc người Pu Péo ở Hà Giang có khoảng 602 người. Tính đến
31/12/2007 có khoảng 663 người.
Dân tộc Pu Péo (Phung Mai)
Tên tự gọi: Pu Péo
Tên gọi khác: Ka Beo, La Quả, Pen ti Lô Lô
Dân số: 687 người (Tổng
cục Thống kê năm 2009)
Ngôn ngữ và chữ viết: Tếng Pu Péo thuộc nhóm ngôn ngữ Ka Đai. Người Pu Péo nói giỏi
tiếng Hmông.
Dân tộc Pu Péo (Vi Đức Hồi)
Trang
phục dân tộc Pu Péo
Tổng số dân: 687 (2009, VN)
Khu vực có số dân gđáng kể: Hà Giang (Việt
Nam), Văn Sơn (Vân Nam, Trung Quốc)
Ngôn ngữ: Pu Péo, H'Mông, Việt, Quan
thoại
Tôn giáo: Thuyết vật linh
Sắc
tộc có liên quan: Tráng
Người La Ha làm lễ hội tạ ơn thầy lang (Huỳnh Tâm)
Hàng năm người La Ha tổ chức Lễ hội tạ ơn thầy lang nhằm tỏ
lòng cảm tạ, tri ân thầy lang đã có công cứu, chữa bệnh tật cho bà con.
Lễ hội tạ ơn thầy lang được tổ chức vào trước ngày Rằm hàng
tháng trong 3 tháng mùa xuân với sự tham gia tự nguyện của người bệnh được thầy
lang chữa khỏi. Ngày khai lễ hội do thầy lang quyết định. Thầy lang là người chủ
trì chuẩn bị về thủ tục, chuẩn bị các loại con vật, hoa rừng trang trí và các dụng
cụ cần thiết khác, để tổ chức tại nhà thầy lang.
Cách tính ngày tốt, xấu độc đáo của người La Ha cổ (Huỳnh Tâm)
Nhắc đến cộng đồng La Ha cổ, người ta nghĩ ngay đến bộ lịch
bằng xương trâu, nhờ loại lịch này, họ có thể tính được ngày tốt, xấu và đặc biệt
là biết được sự thay đổi thời tiết để điều chỉnh công việc cho phù hợp…
Dân tộc La Ha còn được gọi với một số tên khác nhau như:
Klá, Phlạo, Xá Cha, Xá Bung, Xá Khao, Xá Táu Nhạ, Xá Poọng, Xá Uống, Bủ Hà, Pụa.
Đồng bào La Ha hiện nay còn khoảng 6.000 người, cư trú chủ yếu ở địa bàn các
huyện Than Uyên (Lai Châu) và Thuận Châu, Mường La (Sơn La).
Tục ở rể của người La Ha (Huỳnh Tâm)
Với khoảng 1.400 nhân khẩu sinh sống ở các bản xa xôi, heo
hút của vùng Tây Bắc tổ quốc, từ bao đời nay bà con dân tộc La Ha sống dựa vào
thiên nhiên. Luật tục của đồng bào vùng cao nơi đây luôn mang màu sắc kỳ bí,
huyền thoại. Đến với bản La Ha, ta có thể được nghe về những luật tục đôi khi đẫm
nước mắt vì khắc nghiệt, nhưng có lúc cũng lắm tiếng cười...
Đặc trưng dân tộc La Ha (Huyền Trang)
Tên
gọi khác: Xá Khắc, Phlắc, Khlá Xá Cha, Xá Bung, Xá Khao, Xá Táu
Nhạ, Xá Poọng, Xá Uống, Bủ Hà, Pụa.
Nhóm
địa phương: La Ha cạn (Khlá Phlao), La Ha nước (La Ha củng).
Tên
tự gọi: La Ha, Klá, Phlạo.
Ngôn
ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Ka Ðai, (ngữ hệ Thái - Ka Ðai).
Dân
số: 1.400 người.
Phong tục hôn nhân của người La Ha (Thúy Hưởng)
Dân tộc La Ha còn có tên gọi khác: Xá
Cha, Xá Bung, Xá Khao, Xá Táu Nhạ, Xá Pojoong, Xá Uống, Bủ Hà, Pụa. Dân số 1400
người, gồm 2 nhóm thứ cấp riêng biệt: người La Ha cạn và người La Ha nước. Người
La Ha cư trú ở các tỉnh: Sơn La, Lai Châu, Lào Cai và Yên Bái. Người La Ha có
nhiều phong tục tập quán, đáng kể phải kể đến tục ở rể trong hôn nhân.
Dân ca La Ha (Huyền Trang)
Dân tộc La Ha có
tên tự gọi: La Ha, Klá, Phlạo. Họ còn được
gọi với một số tên khác nhau như: Xá Cha, Xá Bung, Xá Khao, Xá
Táu Nhạ, Xá Poọng, Xá Uống, Bủ Hà, Pụa. Với các nhóm địa
phương: La Ha cạn (Khlá Phlao), La Ha Nước (La Ha Củng).
Tiếng La Ha thuộc nhóm ngôn ngữ Kadai của hệ ngôn ngữ Tai-Kadai.
Dân tộc La Ha (Huyền Trang)
Dân tộc La Ha còn có tên gọi khác: Xá Cha, Xá Bung, Xá
Khao, Xá Táu Nhạ, Xá Poọng, Xá Uống, Bủ Hà, Pụa. Dân số 1.400 người, gồm 2 nhóm
thứ cấp riêng biệt. Nhóm thứ nhất là người La Ha cạn (Khlá Phlao) và nhóm thứ
hai là người La Ha nước (La Ha ủng). Địa bàn cư trú ở các tỉnh: Sơn La, Lai
Châu, Lào Cai và Yên Bái. Nhiều người La Ha còn cư trú ở trên bờ dọc theo sông
Hồng và sông Đà.
Lễ hội dâng hoa Măng của người La Ha: Kho báu nghi thức và nghệ thuật độc đáo (Lệ Hằng)
Lễ hội này được hình thành từ thực tiễn
cuộc sống khó khăn, và tổ chức vào mùa xuân hàng năm khi cây măng vầu đắng đội
đất mọc lên, khi cây "mạ rế" trong rừng nở hoa vàng đỏ.
Dân tộc La Ha, dân số không đông, chủ yếu định cư ở Sơn
La-Lai Châu, ở Sơn La chỉ có mấy ngàn người nhưng ở rải rác ba huyện phía Bắc,
ven sông Đà là Mường La, Quỳnh Nhai và Thuận Châu, cuộc sống khó khăn vì chỉ trồng
cấy trên nương.
Dân tộc La Ha (Minh Thúy)
Tên dân tộc: La Ha (Xá Khắc, Phlắc,
Khlá). Dân số: 5.686 người (năm 1999). Ðịa bàn cư trú: Sơn La, Lào
Phong tục tập quán:
Ở nhà sàn, có 2 cửa với 2 thang lên xuống tại hai đầu. Hôn
nhân tự do. Chàng trai đến nhà cô gái dùng sáo, nhị, lời hát để tỏ tình. Sau lễ
dạm hỏi, chàng trai phải ở rể từ 4-8 năm. Hết hạn đó mới tổ chức cưới, cô dâu về
ở nhà chồng. Vợ đổi họ theo chồng.
Dân tộc La Ha (Thụy Khê)
Tên tự gọi: La
Ha
Tên gọ khác: Klá
phlạo, Xá Bung, Pụa, Xá Cha.
Nhóm địa phương: La
Ha Cạn, La Ha Nước
Dân số: 5.686
người (Tổng cục Thống kê năm 2009)
Ngôn ngữ và chữ viết: Tếng nói của người La Ha thuộc nhóm ngôn ngữ Ka Đai,
ngữ hệ Thái - Ka Đai.
Tổng Quan Dân Tộc La Ha (Vi Đức Hồi)
1. Vài Nét Về Dân Tộc La Ha
Dân số: 8.177 người (2009)
Ngôn Ngữ: thuộc nhóm ngôn ngữ Ka Ðai, (ngữ hệ Thái – Ka
Ðai)
Tên gọi khác: Xá Cha, Xá Bung, Xá Khao, Xá Táu Nhạ, Xá Poọng,
Xá Uống, Bủ Hà, Pụa.
Nhóm địa phương: La Ha cạn (Khlá Phlao), La Ha nước (La
Ha củng).
Địa bàn cư trú: Sơn La, Hà Nội, Đắk Nông
Dân tộc La Ha (Vi Đức Hồi)
Khu
vực có số dân đáng kể: Sơn La, Lào Cai.
Dân tộc La Ha còn
được gọi với một số tên khác nhau như La Ha, Klá, Phlạo, Xá Cha, Xá Bung, Xá
Khao, Xá Táu Nhạ, Xá Poọng, Xá Uống, Bủ Hà, Pụa]. Là một dân tộc được CHXHCN Việt Nam chính thức công
nhận.
Tết của người Cờ Lao ở xã Túng Sán (Lan Anh)
Cộng đồng người Cờ Lao ở xã Túng Sán (Hoàng Su Phì) được
xem là một trong những nơi vẫn gìn giữ được các phong tục, tập quán của dân tộc
mình. Không khí ngày Tết thường đến với các gia đình Cờ Lao từ rất sớm, vào
ngày 23 tháng Chạp âm lịch trong các ngôi nhà đã bắt đầu bận rộn chuẩn bị cho Lễ
cúng Thần bếp, một vị thần không thể thiếu trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày.
Từ đó cho đến ngày 25 tháng chạp, các thành viên trong gia đình sẽ tập trung
quét dọn nhà cửa thật sạch và chờ đón năm mới.
Cúng Hoàng Vần Thùng nét văn hóa độc đáo của người Cờ Lao (Hà Nhung)
Lễ cúng Hoàng Vần Thùng với lễ vật sống.
Lễ cúng Hoàng Vần Thùng là một nghi lễ
truyền thống, mang nhiều nét văn hóa độc đáo của người Cờ Lao.
Lễ cúng Hoàng Vần Thùng của người Cờ Lao ở xã Túng Sán,
Hoàng Su Phì, Hà Giang trước đây thường do một dòng họ đứng ra chủ trì tổ chức
tại miếu thờ thôn Tả Chải. Nghi lễ cúng Hoàng Vần Thùng (thần Hoàng) hết
sức quan trọng, mang ý nghĩa tín ngưỡng tâm linh sâu sắc đối với cộng đồng người.
Khám phá đồng bào dân tộc Cờ Lao (Lan Nhi)
Người dân tộc Cờ Lao sống chủ yếu vào cung ứng nông nghiệp
Người dân tộc Cờ Lao trên cao nguyên Hà Giang sống chủ yếu ở
Hoàng Su Phì, Đồng Văn, Mèo Vạc có nguồn sống chính là cung ứng nông nghiệp có
nghề trồng lúa nước, trồng chè, chăn nuôi. Theo nghiên cứu thì Người Cờ Lao có
mặt tại Hà Giang cách bây giờ khoảng 120- 150 năm và được chia thành phổ biến
nhóm khác nhau.
Nét đẹp trong đám cưới của người Cờ Lao (Minh Hằng)
Kèn đực và kèn cái là loại nhạc cụ thường được thổi trong
các đám cưới của người Cờ Lao.
Người Cờ Lao xã
Túng Sán, huyện Hoàng Su Phì là một trong hai nhóm người Cờ Lao hiện đang sinh
sống trên địa bàn tỉnh Hà Giang. Theo tài liệu ghi chép cho thấy, nhóm
người Cờ Lao xã Túng Sán thuộc nhóm Cờ Lao Đỏ có nguồn gốc từ tỉnh Quý Châu
(Trung Quốc) di cư sang Việt Nam đến nay khoảng 150 - 250 năm. Về tên gọi, người
Cờ Lao xã Túng Sán thường tự gọi là "Kề Lau" theo phiên âm Hán ngữ là
"Kưa Lảo"; về ngôn ngữ thuộc nhóm ngôn ngữ Ka - đai. Hiện nay, dân số
của dân tộc này theo thống kê chỉ còn trên dưới 1.000 người.
Trang phục dân tộc Cơ Lao (Minh Hằng)
Dân tộc Cơ Lao ở Hà Giang có 3 nhóm là:
Cơ Lao trắng, Cơ Lao xanh, Cơ Lao đỏ, nhưng trang phục của 3 nhóm Cơ Lao đều giống
nhau gồm: khăn, áo, quần (nay là váy), thắt lưng, yếm che váy, xà cạp.
Khăn (đì ư trì vư) là loại khăn nhiễu
không trang trí hoa văn, khăn rộng khoảng 40cm, dài 250-300cm, khi đội khăn được
gấp đôi hoặc ba theo chiều dọc quấn nhiều vòng quanh đầu. Cách quấn khăn giữa
người sống và người chết có khác nhau, người sống quấn khăn từ phải sang trái,
người chết quấn khăn từ trái sang phải. Hiện nay người Cơ Lao còn dùng khăn
vuông bằng len để đội đầu.
Trang phục dân tộc Cơ Lao (Minh Hằng)
Dân tộc Cơ Lao ở Hà Giang có 3 nhóm là:
Cơ Lao trắng, Cơ Lao xanh, Cơ Lao đỏ, nhưng trang phục của 3 nhóm Cơ Lao đều giống
nhau gồm: khăn, áo, quần (nay là váy), thắt lưng, yếm che váy, xà cạp.
Khăn (đì ư trì vư) là loại khăn nhiễu
không trang trí hoa văn, khăn rộng khoảng 40cm, dài 250-300cm, khi đội khăn được
gấp đôi hoặc ba theo chiều dọc quấn nhiều vòng quanh đầu. Cách quấn khăn giữa
người sống và người chết có khác nhau, người sống quấn khăn từ phải sang trái,
người chết quấn khăn từ trái sang phải. Hiện nay người Cơ Lao còn dùng khăn
vuông bằng len để đội đầu.
Lễ hội cúng Thổ công và tổ tiên dân tộc Cờ Lao (Hoàng Thị Hải)
Thi đấu đánh yến tại lễ hội cúng Thổ công và Tổ tiên dân tộc
Cờ Lao.
Đây là một hoạt động nằm trong Đề án phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc Cờ Lao tỉnh Hà Giang (giai đoạn 2011 – 2020) nhằm bảo tồn văn hoá cổ truyền của các dân tộc thiểu số. Lễ hội có 2 phần, lễ cúng Thổ công và Tổ tiên của người Cờ Lao có ý nghĩa cầu xin thần linh phù hộ, che chở cho cộng đồng về sức khoẻ, làm ăn thuận lợi, mùa màng bội thu…
Lên Hà Giang khám phá đồng bào dân tộc Cờ Lao (Hoàng thị Hải)
Người dân tộc Cờ Lao trên cao
nguyên Hà Giang sống chủ yếu ở Hoàng Su Phì, Đồng Văn, Mèo Vạc với
nguồn sống chính là sản xuất nông nghiệp với nghề trồng lúa nước, trồng chè,
chăn nuôi. Theo nghiên cứu thì Người Cờ Lao có mặt tại Hà Giang cách ngày nay
khoảng 120- 150 năm và được chia thành nhiều nhóm khác nhau.
Văn hóa hôn nhân của dân tộc Cờ Lao (Hoàng thị Khuyên)
Dân
tộc Cờ Lao thực hiện hôn nhân một vợ một chồng, cư trú bên nhà chồng và ngoại
hôn dòng họ. Trong truyền thống, đồng bào chấp nhận lấy vợ, lấy chồng đổi nhau
giữa các gia đình (con trai nhà này lấy con gái nhà kia và ngược lại con trai
nhà kia lại lấy con gái nhà này).
Dân tộc Cơ Lao (Mai Thục)
Tên gọi khác:
Ke Lao
Nhóm ngôn ngữ:
Ka đai
Cư trú: Tập
trung ở huyện Ðồng Văn và Hoàng Su Phìn (tỉnh Hà Giang).
Ðặc điểm kinh tế:
Ở Ðồng Văn, người Cờ Lao làm nương, gieo trồng ngô ở hốc núi đá. Ở Hoàng Su
Phi, đồng bào làm ruộng nước và nương núi đất, trồng lúa là chính. Nghề thủ
công phổ biến của đồng bào là đan lát và làm đồ gỗ, sản phẩm là phên, cót,
nong, bồ, bàn ghế, yên ngựa v.v...
Dân tộc Cơ Lao (Hồng Hạnh)
Tên tự gọi: Cơ
Lao
Tên gọi khác: Tứ
Đư, Ho Ki, Voa Đề
Nhóm địa phương: Cơ
Lao Trắng, Cơ Lao Xanh, Cơ Lao Đỏ.
Dân số: 2.636
người (Tổng cục Thống kê năm 2009)
Ngôn ngữ và chữ viết: Người Cơ Lao nói tiếng thuộc nhóm ngôn ngữ Ka Đai. Nhiều
người biết chữ Hán, dùng chữ Hán để cúng lễ.
Dân tộc Cờ Lao (Hồng Hạnh)
Tên tự gọi: Cờ Lao.
Tên gọi khác: Tứ Ðư, Ho Ki, Voa Ðề.
Nhóm địa phương:Cờ Lao Xanh, Cờ Lao Trắng, Cờ Lao Ðỏ.
Dân số: 2.636 người (theo kết quả điều tra dân số
năm 2009 của Tổng cục thống kê)
Lịch sử: Người Cờ Lao chuyển cư tới Việt
Nam cách đây khoảng 150 - 200 năm.
Dân tộc Cờ Lao (Vi Đức Hồi)
Cờ Lao/Ngật Lão
Tổng số dân: 550.000 (ước)
Khu vực có số dân đang sống: Quý Châu, Quảng Tây, Vân Nam, Tứ Xuyên -
Trung Quốc; một ít tại Hà Giangn Việt Nam.
Ngôn ngữ: Tiếng Cờ Lao (Ngật Lão)
Tôn giáo: Đạo
giáo, Phật giáo.
Vài nét Dân tộc Lự (Minh Nguyệt)
Tên gọi khác : Lữ, Nhuồn, Duồn
Nhóm ngôn ngữ : Tày - Thái
Dân số : 3.700 người.
Cư trú : Tập trung ở hai huyện Phong Thổ và Sìn Hồ, tỉnh
Lai Châu
Đặc điểm kinh tế
Khám phá văn hóa dân tộc Lự ở Lai Châu (Minh Nguyệt)
Đến với Bản Hon, du khách sẽ được khám phá và trải nghiệm
cuộc sống sinh hoạt, lao động của người dân bản địa.
Bản dân tộc Lự bên dòng Nậm Hon (Hoàng Hải)
Nằm trên Quốc lộ 4D, cách thành phố Lai Châu chừng 15km,
cách trung tâm thị trấn Tam Đường chừng 7km, bản Hon nép mình giữa hai dòng suối
Nậm Hon và Nậm Mu thơ mộng trên cung đường huyền thoại mang tên “Vòng cung Tây
Bắc”.
Cuộc sống yên bình của người Lự ở Bản Hon
Độc đáo lễ hội Căm Mường của người Lự (Hoàng Hải)
![]() |
| Các thầy cúng đang chuẩn bị thuyền giấy để làm lễ |
Tỉnh Lai Châu hiện có 20 dân tộc anh em sinh sống, trong đó
dân tộc Lự sống tập trung ở huyện Sìn Hồ và Tam Đường. Vốn văn hóa tinh thần của
dân tộc Lự rất phong phú, đa dạng, còn giữ được những nét văn hóa riêng, mang đậm
bản sắc dân tộc, đặc sắc và tiêu biểu nhất là Lễ Căm Mường.
Nét duyên người Lự (Hoàng Thị Khuyên)
Người Lự (còn gọi là Lào Lự, người Lữ, người Nhuồn, người
Duồn) là một dân tộc ít người trong cộng đồng 54 dân tộc anh em Việt
Nam. Mấy năm gần đây một số bản làng của người Lự ở tỉnh Lai Châu đã trở
thành điểm du lịch văn hóa sinh thái hấp dẫn du khách quốc tế.
Theo số lượng mới thống kê gần đây, cả nước chỉ có khoảng
5.500 người Lự và họ sinh sống chủ yếu ở một số xã vùng cao thuộc các huyện
Phong Thổ, Tân Uyên (Lai Châu).
Lễ cưới người Lự (Hoàng Thị Khuyên)
Các chàng trai người Lự thường mang sáo đi tìm người yêu.
Lễ cưới của trai gái dân tộc Lự thường
diễn ra khi tiết trời đang độ xuân, cây cối đâm chồi nảy lộc, hoa mạ, hoa
pon... đua nở.
Dân tộc Lự có tên gọi khác là: Lữ, Nhuồn, Duồn, có khoảng
3.700 người, cư trú tập trung ở hai huyện Phong Thổ và Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu.
Thổ Cẩm của người dân tộc Lự (Vân Anh)
Sắc thổ cẩm đằm thắm của người phụ nữ Lự ở Tam Đường.
Biên Phòng - Trong
cuộc hành trình tìm về với những người anh em dân tộc Lự, chúng tôi đến bản
Hon, thuộc huyện Tam Đường, Lai Châu, nơi có 474 hộ với 2.859 nhân khẩu người
dân tộc Lự. Là một trong số 16 dân tộc có số dân dưới 10.000 người, dân tộc Lự
hiện chỉ còn 3.700 khẩu, cư trú tập trung ở hai huyện Phong Thổ và Sìn Hồ, tỉnh
Lai Châu.
Độc đáo trang phục của đồng bào Lự (Mai Thị Hằng)
Bộ trang phục truyền
thống được phụ nữ Lự sử dụng trong những ngày hội bản.
Đồng bào Lự cư trú chủ yếu ở 2 huyện Phong Thổ và Sìn Hồ,
tỉnh Lai Châu. Trong các nghề truyền thống của đồng bào Lự, nghề dệt là phát
triển nhất. Chính vì vậy người phụ nữ Lự rất khéo léo trong việc canh cửi,
trang phục của họ cũng rất cầu kỳ, nổi bật nhiều hoa văn trên sắc chàm đen.
Nghề dệt của dân tộc Lư (Mai Thị Hằng)
Nghề thủ công truyền thống của người dân tộc Lự khá đa dạng
và phong phú với nhiều loại hình như: Nghề mây tre đan; nghề mộc, thêu thùa
nhưng nổi bật hơn cả đó là dệt vải, chính những sản phẩm dệt từ bàn tay thủ
công khéo léo đã tạo nên thương hiệu cho những bộ trang phục của dân tộc Lự.
Phát huy bảo tồn nghề dệt dân tộc Lự (Mai Thị Tầm)
Trong 54 dân tộc anh em, người Lự nổi tiếng với nghề truyền thống là trồng bông, nuôi tằm, kéo sợi, dệt vải. Vì thế các sản phẩm dệt thủ công của người Lự nổi tiếng phong phú và tinh xảo.
Ấn tượng ban đầu khi đặt chân
tới vùng đất Lai Châu trong tôi không chỉ là những dải núi trùng điệp mà còn là
hình ảnh những cô gái chàng trai trong trang phục dân tộc rực rỡ sắc màu. Đặc biệt trong đó là trang phục
dân tộc Lự, một dân tộc thiểu số với chưa đầy 6.000 người, cư trú tập trung chủ
yếu ở các huyện Tam Đường, Phong Thổ, Sìn Hồ.
Tết người dân tộc Lự - Lai Châu (Mai Thị Tầm)
Mỗi dân tộc đều có phong tục đón Tết riêng của mình; dân tộc
Lự (xã Bản Hon, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu) cũng vậy, họ đón một năm mới
theo văn hóa truyền thống riêng của dân tộc mình.
Hình ảnh người Phụ nữ Lự hối hả nhuộm, phơi vải để may
trang phục cho cả gia đình diện Tết là hình ảnh thường nhật trong các gia đình ở
bản Hon trong những ngày trước Tết. Trang phục truyền thống của người Lự cả nam
và nữ được làm từ vải chàm màu đen. Đối với trang phục nam may đơn giản một
màu, còn trang phục nữ cầu kỳ, tỷ mỷ mất nhiều công đoạn. Các chị khéo léo thêu
thùa trang trí từng họa tiết, từ khăn, áo, váy theo kiểu truyền thống.
Độc đáo lễ hội Căm Mường dân tộc Lự - Lai Châu (Ngọc Linh)
Lễ hội Căm Mường được tổ chức vào ngày mùng 3/3
âm lịch hàng năm. Đây là nghi lễ truyền thống của người Lự dâng lễ vật, tế thần
sông, thần núi, thần khe, thần suối, thần rồng, phù hộ cho bà con dân bản được
ăn nên làm ra, điều lành ở lại, điều dữ mang đi, cầu nguyện một năm mưa
thuận gió hòa, mùa màng bội thu, dân bản yên vui no ấm…
Kiến trúc nhà sàn độc đáo của dân tộc Lự (Anh Văn)
Một ngôi nhà sàn người Lự ở bản Hon 1, xã Bản Hon, huyện
Tam Đường.
– Đến các bản làng người Lự, dù là bản Hon, Pa Pe (huyện
Tam Đường) hay vùng thấp huyện Sìn Hồ thì chúng ta cũng luôn thấy những mái nhà
sàn san sát và thường quay mặt về hướng Bắc, tạo nên nét riêng biệt, khó quên.
Dân tộc Lự (Hà Thanh)
Tên dân tộc: Lự
Tên gọi khác: Lừ,
Thay hoặc Thay Lừ, Phù Lừ, Nhuồn, Duồn.
Nhóm địa phương: Lự Đen
Ngôn ngữ và chữ viết: Thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái. Người Lự có sử dụng
chữ theo mẫu tự Pali.
Bản Hon - nơi in dấu nét văn hóa dân tộc Lự (Hải Thanh)
Dệt vải truyền thống là một trong những
nghề rất phát triển và đem lại nguồn thu đáng kể cho dân Bản Hon
Với lợi thế nằm trên tuyến du lịch "Vòng cung Tây Bắc", đồng thời mang đậm bản sắc văn hóa độc đáo của dân tộc Lự, Bản Hon (huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu) đang trở thành điểm đến du lịch cộng đồng hấp dẫn nhiều du khách trong nước và quốc tế.
Dân tộc Lự (Vi Đức Hồi)
Tổng số ân: 222.000 +
Khu vực có số dân đáng kể: Lào (134.100),
Thái Lan (83.000), Việt Nam (5.553), Lai Châu, Lâm Đồng, Trung
Quốc (?)
Ngôn ngữ: Tiếng Lự, tiếng
Thái, tiếng Lào, tiếng Việt, khác
Tông giáo: Phật giáo
Vài nét về dân tộc Bố y (Long Nhật)
Tên tự gọi:Bố Y.
Tên gọi khác: Chủng Chá, Trọng Gia...
Nhóm địa phương: Bố Y và Tu Dí.
Dân số: 2.273 người.
Ngôn ngữ: Nhóm Bố Y nói ngôn ngữ Tày -
Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai), còn nhóm Tu Dí nói ngôn ngữ Hán (ngữ hệ Hán - Tạng).
Lịch sử: Người Bố Y di cư từ Trung Quốc
sang cách đây khoảng 150 năm.
Vài nét về dân tộc Bố y (Long Nhật)
Tên tự gọi:Bố Y.
Tên gọi khác: Chủng Chá, Trọng Gia...
Nhóm địa phương: Bố Y và Tu Dí.
Dân số: 2.273 người.
Ngôn ngữ: Nhóm Bố Y nói ngôn ngữ Tày -
Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai), còn nhóm Tu Dí nói ngôn ngữ Hán (ngữ hệ Hán - Tạng).
Lịch sử: Người Bố Y di cư từ Trung Quốc
sang cách đây khoảng 150 năm.
Nghệ nhân dân gian say mê gìn giữ văn hóa dân tộc Bố Y (Minh Huyền)
Phụ nữ Bố Y trong trang phục truyền thống
Nghệ nhân Lồ Lài Sửu, xã Thanh Bình, huyện Mường Khương,
tỉnh Lào Cai là một trong những người đã khổ công suốt 20 năm sưu tầm, sáng
tác, truyền dạy và phục dựng những bài ca dao, dân ca cùng làn điệu múa dân
gian truyền thống của người Bố Y với mong muốn gìn giữ văn hóa truyền thống
trong cuộc sống đương đại trước nguy cơ bị phai nhạt, mất dần bản sắc.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)















































