Mùa Chiêng Khiên Trong Đời Sống Dân Tộc Ca Dong. * Biên Khảo Huỳnh Tâm.

Múa bi
ểu diễn cồng khiên của dân tộc Ca Dong vào tháng năm (5), tại xã Trà Bui, huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam.
Đại diện làng tay phải cầm khiên, tay trái cầm con dao chuyển động biểu diễn từng động tác múa Chiêng Khiên thi triển tuyệt đẹp. Những động tác khong khác nào chiến binh thời thượng cổ chiến đấu, thể hiện nét oai phong, hùng tráng.

Dân Tộc Ca Dong An Cư Lạc Nghiệp Vùng Đất Mới. * Biên Khảo Huỳnh Tâm.

Ngôi làng mới của dân tộc Ca Dong thường xây dựng thoang thoảng trên ờn núi rất thoáng đãng, có nguồn nước chảy về làng, Có nhiều gia đình cùng dòng máu hoặc không cùng. Già làng gọi là Kraq-Plài, Làng gọi (Plài) đại diện cho cả làng, lấy quyết định cho mọi vấn đề của làng, như chăm nom, bảo vệ địa giới làng, hay hòa giải, giao tiếp khác, dạy bảo con cháu giữ gìn phong tục tập quán, đôn đốc sản xuất, chủ trì các lễ thức tín ngưỡng của làng, xử lý tranh chấp, vi phạm luật tục.

Con Người Và Nhân Văn Của Dân tộc Ca Dong. * Biên Khảo Huỳnh Tâm.

-
Đặc thù vùng đất cư trú của dân tộc Ca Dong.
Cộng đồng dân cư ở huyện Sơn Tây tỉnh Quảng Ngãi có: Ca Dong, Hrê, Cor, Kinh, nhưng cư trú lâu đời nhất là tộc người Ca Dong, một chi của dân tộc Xơ Đăng ở bắc Tây Nguyên.
Dân tộc Xơ Đăng có năm chi chính là Ca Dong, Xơ Teng, Tơ Drá, Mơ Nâm, Hà Lăng. Chi Ca Dong cư trú ở các huyện Đức Hà, Đắc Tô, Kon Plong tỉnh Kon Tum. Huyện Trà My tỉnh Quảng Nam. Vùng Mang Xinh huyện Tây Trà và huyện Sơn Tây tỉnh Quảng Ngãi.

Nhà Sàn Dân Tộc Ca Dong. * Biên Khảo Huỳnh Tâm.

Người
dân tộc Ca Dong giữ nếp sinh cư làng ấp truyền thống, dù phải rời bỏ ngôi làng thân thương do thiên tai, dịch bệnh. Phải đi tìm mảnh đất mới phù hợp sinh cư của làng, những phong tục hồn vía, lâu đời của người dân tộc Ca Dong vẫn được tuân thủ gần như tục lệ tuyệt đối.

Dân Tộc Ca Dong Lập Làng. * Biên Khảo Huỳnh Tâm.

Người
dân tộc Ca Dong ở huyện Sơn Tây gọi làng là Plây Pla. Trải qua hàng trăm năm định cư ở vùng đất cao nguyên, người Ca Dong có cách lập làng rất khác biệt, nếu không may làng cũ bị thiên tai, dịch bệnh.
Khi lập làng mời phải chọn đất tốt và có nguồn nước.
Chọn đất và nguồn nước là việc làm đầu tiên khi lập làng.

Dân Ca Của Dân Tộc Ca Dong. * Biên Khảo Huỳnh Tâm.

Tựa lưng vào
núi rừng Ngọc Linh cao khoảng 1.325m. Có hai huyện vùng cao Bắc và Nam Trà My, Quảng Nam. Một vùng đất sinh sống lâu đời của người dân tộc Ca Dong. Trong số ít các dân tộc thiểu số ở khu vực Trường Sơn, Tây Nguyên. Sống ẩn mình sau trong những ngọn núi cao, với không gian bao la của đại ngàn, người dân tộc Ca Dong luôn ấp ủ một ước mơ hãy làm được gìn giữ để lưu truyền những làn điệu dân ca truyền thống của dân tộc mình?
Những phụ nữ Ca Dong, với làn điệu dân ca Đê Ôdê chia sẻ niềm vui cho nhau, như được mùa, tình yêu và hạnh phúc.

Người Dân Tộc Ca Dong Có Chữ Viết Riêng. * Biên Khảo Huỳnh Tâm.

Đặc thù người dân tộc Ca Dong
có chữ viết được truyền bao đời, và lưu giữ như một kho tàng văn hóa vô cùng phong phú, người dân tộc Ca Dong lưu truyền văn hóa với tính nhân văn của dân tộc vẫn còn lưu truyền đến ngà nay 2025. Viết lên dòng lịch sử thành tựu của muôn đời, nhờ có thi ca mà chuyển tải một cách nhanh nhất đến với mọi người trong cộng đồng.
Đặc biệt ngôn ngữ Ca Dong có âm tiết, âm vị rất hay phù hợp, và tạo ra bộ chữ viết độc đáo, bao gồm 34 chữ cái và kết hợp nhiều ảnh hưởng ngôn ngữ đa dạng.

Thi Ca Dân Tộc Thiểu Số Ca Dong. * Biên Khảo Huỳnh Tâm.

Trong kho tàng văn học
nghệ thuật dân gian, có những dân tộc chứa đựng một kho tàn dân ca, nếu không phát huy sẽ bị mai một, điển hình người dân tộc Ca dong, (một nhánh của dân tộc Xơ-đăng). Đặc điểm của Dân tộc Ca Dong có những làn điệu dân ca truyền thống mang đậm chất trữ tình, thể hiện tình cảm ngọt ngào, sâu lắng. Họ hát khi lên rẫy, hát trong những ngày lễ hội của làng, cưới xin, hát khi ru em bé ngủ, trai gái Ca Dong hát khi cho tuổi dậy thì, mỗi giọng hát truyền cảm có sức hấp lực tỏ tình với nhau.